Hiển thị các bài đăng có nhãn HỘ GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn HỘ GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

THẮC MẮC SỐNG ĐẠO

(Bài hay nên đọc...)
Theo con đạo nào cũng tốt, hay “Đạo nào cũng như Đạo nào, dạy ăn ngay ở lành”. Thưa Cha như thế có đúng không? Một GD.
------------------------------------------- 

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014


SUY TƯ về MẦU NHIỆM NHẬP THỂ

Theo LƯỢC ĐỒ THẦN HỌC 
của CHALCÉDOINE

I.  MẦU NHIỆM NHẬP THỂ.
         
Chúng ta đã quá quen dùng từ ngữ “nhập thể” để chỉ mầu nhiệm Con Thiên Chúa đồng bản thể với Thiên Chúa, đã làm người và ở giữa loài người chúng ta.
         
Thực ra từ ngữ “nhập thể” còn nhiều khiếm khuyết. Chữ “nhập” gợi ra hình ảnh một vị thần linh nhập vào trong một người hay một thực tại nào đó. Đột nhập chứ không đồng hóa, không trở nên, nghĩa là vẫn còn một khoảng cách hữu thể. Vả lại “nhập vào” là hành vi có tính cách nhất thời, vì nhập vào rồi sẽ xuất ra. Dù thời gian nhập vào kéo dài bao lâu đi nữa, thời gian ấy vẫn qua đi, và như vậy thì không diễn tả đúng mầu nhiệm Con Thiên Chúa làm người, trở nên một con người cụ thể là Giêsu Nazareth.


Đối với niềm tin của chúng ta, giữa Giêsu Nazareth và Con Thiên Chúa không còn một khoảng cách hữu thể nào nữa: Giêsu Nazareth là Con Thiên Chúa, và Con Thiên Chúa đã trở nên Giêsu Nazareth. Giêsu Nazareth là Con và mãi mãi là Con Thiên Chúa, và từ lúc làm người, Con Thiên Chúa không bao giờ rũ bỏ nhân tính của mình nữa.
         
Khi chúng ta tuyên xưng một Đức Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời... Vì chúng ta... đã từ trời xuống thế và đã làm người, chúng ta tuyên xưng hai điều cốt yếu:

Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật.
Thiên Chúa thật đã trở thành người thật.

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013

Tại sao có SỰ DỮ, SỰ ĐAU KHỔ trong trần gian này ?



Sự dữ, sự đau khổ là điều không ai mong muốn, không ai hiểu thấu lý do, nhưng không ai tránh được trong cuộc sống này. Nó quả là một bí nhiệm.
--------------------------------------------

Hỏi: Xin Cha giải thích lại tại sao Chúa để sự dữ, sự đau khổ hoành hành trong trần gian này, và ý nghĩa của những đau khổ và sự dữ đó?

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Tôn kính di tích xương thánh

Trong Giáo Hội có nhiều nơi còn lưu giữ di tích Thánh, như ở đền thờ Vatican có mộ Thánh Phero, mộ thánh Phaolo ở Roma, ở Santiago Campostella bên Tây ban Nha có hài hài cốt Thánh Giacobê Tông Đồ, bên Ấn Độ có mộ Thánh Toma Tông đồ, ở Köln có hòm xương của Ba Vua, ở thành Turino bên Ý có khăn của Thánh tẩm liệm in hình Chúa Giêsu, những di tích Xương của các vị Thánh, như chúng ta có xương của 117 vị Thánh tử đạo Việt Nam.

Có di tích Thánh, đồng thời cũng nảy sinh tập tục lòng tôn kính di tích Thánh. Tập tục tôn kính di tích Thánh trong Giáo Hội Hội là nếp sống đạo đức bình dân thịnh hành từ xa xưa. Ngày nay tập tục này tuy vẫn còn sống động, nhưng không còn mạnh cùng trọng thể tưng bừng nhộn nhịp như ngày xưa nữa.


Nhưng đâu là ý nghĩa đạo đức thần học của tập tục tôn kính di tích thánh trong nếp sống đức tin của người Công Giáo?


Chủ Nhật, 5 tháng 5, 2013

ĐỨC MẸ HIỆP CÔNG
VRNs (05.05.2013) – All-About-The-Virgin-Mary - Đối với nhiều người, cảnh ấn tượng và xúc động nhất trong bộ phim bom tấn “Cuộc khổ nạn của Đức Kitô” (The Passion of the Christ) của đạo diễn Mel Gibson là cảnh Chúa Giêsu mặt mũi tím bầm mà bị ngã xuống đất dưới sức nặng của cây thập tự. Rồi Đức Mẹ chạy đến nhìn Con vừa âu yếm vừa xót xa, nước mắt đầm đìa, muốn bảo vệ Con và muốn đỡ Con đứng dậy, Đức Mẹ nói lớn: “Mẹ đây!” (I am here!). Lúc này có cảnh Đức Mẹ hồi tưởng khi Chúa Giêsu còn thơ ấu…


Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013


NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC PHÉP
BUÔN BÁN SÚNG ĐẠN và MA TÚY KHÔNG ?


Nhân các nhà lập pháp Hoa Kỳ đang tranh cãi về việc cấm bán các lọai võ khí tấn công (assault weapons) cho công chúng xử dụng khiến nhiều tai nạn đáng tiếc đã xảy ra cho người dân vô tội,

Xin cha giải thích 2 câu hỏi sau đây:
1-Người Công Giáo có được phép cờ bạc, buôn bán súng đạn, cần sa, ma túy không?
2- Có được phép tham dự các nghi lễ của các giáo phái ngoài Công Giáo không ?

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

Lớp Kitô học Năm Đức Tin: Các bằng chứng về Đấng Phục Sinh

Các bằng chứng về Đấng Phục Sinh

Lời mở
Chúa Giêsu Phục Sinh là tâm điểm của toàn bộ lời rao giảng của các tông đồ cũng như của tất cả đời sống đức tin của tín hữu vì “nếu Đức Kitô không sống lại, lời rao giảng của chúng tôi sẽ vô ích và lòng tin của anh em cũng thực là trống rỗng…” (1 Cr 15,14-19). Do đó, chúng ta phải tập trung sự chú ý và học hỏi thật nhiều về Đấng Phục Sinh.

Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta đã tìm hiểu Chúa Giêsu chết như 1 con người, như Đấng Messia và như Ngôi Lời Thiên Chúa. Cái chết của Người không phải là hậu quả tất yếu của tội lỗi, từ nguyên tội của con người vì Đức Giêsu không phạm tội, nhưng đến từ sự khiêm hạ của Thiên Chúa, là hoạt động của tình yêu Thiên Chúa xuống với con người để đưa con người về với Thiên Chúa (x. ĐGH Bênêđcitô XVI, Đức Giêsu thành Nazareth, phần II, chương 9 “Cuộc phục sinh của Đức Giêsu từ trong cõi chết”). Vì thế, cuộc sống lại của Đức Giêsu cũng sẽ là hậu quả tất yếu của Tình yêu Thiên Chúa.

Cuộc sống lại này được diễn tả bằng 2 bằng chứng: ngôi mộ trống và các lần hiện ra của Đấng Phục Sinh. Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về những bằng chứng này để tăng thêm sự hiểu biết và niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh vì cuộc sống lại của Đức Giêsu vừa là sự kiện có thật xảy ra trong lịch sử mà ta phải dùng lý trí để tìm hiểu vừa là một mầu nhiệm mà ta cần phải có đức tin để khám phá ra những ý nghĩa của sự kiện này.

 

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Nói Thêm Về Vấn Đề Linh Mục Đồng Tế và Bổng Lễ

Hỏi : Xin cha giải thích lại về vấn đề có nhiều linh mục đồng tế và tiền xin lễ.

Trả lời:
Trong bài trước đây, tôi đã có dịp nói về vấn đề đồng tế (concelebration) của các linh mục trong một Thánh Lễ. Tôi đã nói rõ là không có giáo lý, giáo luật hay luật phụng vụ nào cấm việc này. Có chăng chỉ có giáo luật cấm linh mục Công giáo "đồng tế với các thừa tác viên của các giáo hội hay giáo đoàn không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo" mà thôi (x. giáo luật số 908).

Thứ Năm, 24 tháng 1, 2013

Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2013

Hộ giáo

Đời sau có hay không?


Nhân loại đã đưa ra sáu luận chứng căn bản về những gì sẽ xảy đến cho chúng ta khi chúng ta chết:

1. Chủ nghĩa duy vật: Không có gì tiếp tục tồn tại; cái chết chấm dứt mọi thứ của tôi. Điều này hiếm được chấp nhận vào khoảng thời gian trước thế kỷ XVIII, tuy nhiên ngày nay chủ nghĩa duy vật là một quan điểm tuy nhỏ mà mạnh mẽ trong các quốc gia đã được công nghiệp hóa. Nó là một sản phẩm đính kèm mang tính tự nhiên của chủ thuyết vô thần.
2. Chủ thuyết ngoại giáo: một nửa con người mờ ảo hay một bóng ma vẫn còn sống và đi đến một nơi chết chóc, Địa ngục tối tăm, ảm đạm.
3. Thuyết đầu thai: Linh hồn của một người vẫn sống sau khi chết và được tái nhập vào trong một thể xác khác.
4. Thuyết phiếm thần: Cái chết chẳng thay đổi gì cả, những gì tồn tại sau khi chết cũng giống như những gì có thực trước khi nó chết: chỉ là một, một Thực Tại không thay đổi, vĩnh hằng, hoàn hảo, tinh thần, thần thiêng, có tính bao hàm, và thỉnh thoảng được gọi với cái tên “Brahman” và thỉnh thoảng không được gọi như thế (như trong Phật giáo).
5. Thuyết linh hồn bất tử: Linh hồn của mỗi người vẫn sống sau khi người ấy chết, nhưng thể xác thì không.
6. Thuyết phục sinh: Khi chết, linh hồn tách lìa khỏi thể xác và được tái hiệp nhất với chính thân xác đã được làm mới, đã được phục sinh, bất tử vào ngày cánh chung nhờ vào quyền năng của Thiên Chúa. Đây là quan điểm của Kitô Giáo. Sự phục sinh siêu nhiên của thể xác hơn là chỉ nói về bản tính bất tử vốn có của chỉ linh hồn, quan điểm là chính quan điểm về đời sống sau khi chết trong Kinh Thánh. Quan điểm này vốn đã được tiên báo và hi vọng một cách mơ hồ  trong Cựu Ước, nhưng đã được mặc khải rõ ràng trong Tân Ước. Cả hai quan điểm 5 và 6 đều đề cập đến việc linh hồn vẫn sống sau khi thể xác chết đi. Đây là điểm mà chúng ta sẽ chứng minh.

Luận chứng về tính đơn nhất của linh hồn
Đại tiền đề: Cái gì không được gộp lại thì không thể bị tách rời. Bất cứ thứ gì được gộp lại từ những phần khác nhau thì có thể được tách ra thành những phần khác nhau: một phân tử được tách ra thành những nguyên tử, một tế bào được tách thành những phân tử, một cơ phận có thể được tách ra thành những tế bào, một thân thể có thể được tách ra thành những bộ phận, một con người có thể được tách ra thành linh hồn và thể xác. Điều gì không thể được cấu nên từ các phần thì không thể được tách ra thành những phần khác nhau.

Tiểu tiền đề: Linh hồn thì không phải được cấu nên từ các bộ phận. Không như thể xác, nó không có những bộ phận có thể đếm hay đo lường được. Bạn có thể cắt thể xác ra làm đôi nhưng không thể làm được như thế đối với linh hồn; bạn không thể có một nửa linh hồn. Bạn không thể cắt ra được một tí của linh hồn khi cắt tóc.

Kết luận: Vậy linh hồn thì không thể bị chia tách.
Chỉ có hai cách bị hủy diệt đi: bị chia tách thành từng phần, như trường hợp của thể xác, hoặc bị hủy diệt hoàn toàn nguyên trong một tổng thể. Nhưng chúng ta biết rằng không gì lại bị hủy diệt xét như là một tổng thể. Không gì lại tự dưng đi vào hiện hữu. Nếu linh hồn không chết cả trong các bộ phận (bởi sự chia tách) lẫn trong trường hợp một thể xác nguyên vẹn (bởi sự hủy diệt), thì linh hồn không thể chết.

Luận chứng về việc năng lực linh hồn dẫn dắt thể xác.

Đại tiền đề: Giả sử năng lực của linh hồn không đến từ thân xác, điều này cho thấy rằng linh hồn không là một phần hay là một chức năng của thân xác. Đến lượt nó, điều này cũng chỉ ra rằng linh hồn không phụ thuộc vào những quy luật của thân xác, bao gồm cả cái chết.

Tiểu tiền đề: Một năng lực như thế của linh hồn hiện hữu thì không đến từ thân xác. Chính nó là năng lực làm cho thể xác hiện diện. Thể xác không thể hiện diện bởi chính nó, không thể là đối tượng nhận thức của chính nó, không thể biết về chính mình. Để cụ thể hóa X, tôi phải hơn X. Tôi có thể biết một hòn đá như là một vật thể chỉ vì tôi không chỉ là một hòn đá xét như là một vật thể. Một cái máy chiếu có thể  phóng chiếu các hình ảnh lên màn hình chỉ vì nó không là một hình ảnh. Tôi có thể nhớ quá khứ của mình chỉ vì tôi vượt trên nó; tôi là một con người hiểu biết trong hiện tại. (Hiện tại của tôi thì sống động, quá khứ của tôi đã chết rồi). Tôi có thể biết thể xác của tôi là một vật thể chỉ vì tôi vượt trên thể xác của mình. Chủ thể nhận biết phải vượt trên đối tượng đựợc nhận biết.

Kết luận: Do thế, linh hồn không tùy thuộc vào tính phải chết của thể xác.

Luận chứng về hai hoạt động phi vật chất.

Đại tiền đề: Nếu tôi thực hiện những hoạt động mà trong đó thân xác không đóng một vai trò quan trọng hay thiết yếu nào, thì đấy không phải là những hoạt động trên thân xác, vì lẽ đó, tôi vượt trên thân xác mình; tôi cũng có một linh hồn phi vật chất (nó không chết khi thân xác chết đi).

Tiểu tiền đề: Hai hoạt động này là (1) suy nghĩ, phân biệt khỏi những cảm giác bên ngoài và những cảm giác bên trong (sự tưởng tượng) và (2) ý chí có suy xét, hữu lý và trách nhiệm, phân biệt khỏi ý thích theo bản năng, khát vọng hay cảm giác.

Kết luận: Tôi có một linh hồn phi vật chất và bất tử.

Chứng minh (1): Nhờ nội quan, ta có thể biết rằng suy nghĩ của chúng ta không bị giới hạn vào những hình ảnh, ví như những hình chóp, nhưng cũng có thể hiểu những nét bản chất và những quy tắc trừu tượng, phi vật chất và phổ quát, ví như tính tam giác và lượng giác học. Chúng ta không thể tưởng tượng ra được sự khác biệt giữa một hình có 103 cạnh và một hình có 104 cạnh như khi chúng ta hình dung sự khác biệt giữa một hình có 3 cạnh và một hình có 4 cạnh; nhưng chúng ta có thể hiểu sự khác biệt giữa một hình có 103 cạnh và một hình có 104 cạnh, cho dù chúng ta không thể tưởng tượng ra nó. Do thế, sự hiểu biết của chúng ta thì trổi vượt trên sự tưởng tượng của chúng ta.

Chứng minh (2): Nếu ý chí chỉ là khát vọng mang tính bản năng, sẽ có hai kết luận ngờ nghêch theo sau: (a) Chẳng ai trong chúng ta tự do và kiểm soát được ý chí của mình, do thế, chẳng ai trong chúng ta sẽ chịu trách nhiệm cho chọn lựa của mình, tất cả lời tán dương, lời khiển trách và trách nhiệm sẽ là viển vông, (b)  Nếu trong chúng ta chỉ có bản năng mà không có ý chí, thì bản năng mạnh nhất sẽ luôn luôn thắng. Nhưng điều này không đúng, vì tôi có thể và thỉnh thoảng tôi chọn điều trái ngược với bản năng mạnh nhất của mình (ví dụ khi tôi chọn để theo bản năng yếu hơn là thương cảm thay vì theo bản năng mạnh hơn là sợ và tự bảo toàn trong việc sẵn sàng giúp một nạn nhân đang sắp chết đuối hay đang bị trấn lột.)

Luận chứng tự mâu thuẫn của người chống chủ nghĩa duy vật.

Một máy tính thì không đáng tin nếu nó đã được lập trình một cách tình cờ chứ không theo một thiết kế hữu lý (ví dụ, do bởi một cục mưa đá tình cờ rơi trên bàn phím của nó.)

Bộ não con người và hệ thống thần kinh của nó là một chiếc máy tính. Chúng có thể hơn cả một chiếc máy tính, nhưng cũng có thể không bằng một chiếc máy tính. Do thế, bộ não con người sẽ không đáng tin cậy nếu nó chỉ được lập trình cách tình cớ.

Nhưng nếu chủ nghĩa duy vật là đúng, nếu linh hồn chỉ là bộ não, nếu chẳng có tinh thần, chẳng có linh hồn con người và Thiên Chúa, thì bộ não con ngươi đã đơn thuần được lập trình cách tình cờ. Mọi chương trình mà bộ não của chúng ta đã nhận được ngang qua di truyền (di truyền học) và môi trường (xã hội), thì chung cục chỉ là sự tình cờ ngu muội, tuỳ tiện, ngẫu nhiên, những sự kiên thô kệch, những nguyên nhân thuần vật chất , không có những lý do hợp luận lý.

Do thế, chủ nghĩa duy vật không thể đúng. Chủ nghĩa ấy phản bác chính mình. Nó huỷ diệt tính khả tín của mình. Nếu bộ não chẳng có gì ngoại trừ những nguyên tử không nhìn thấy, chúng ta chẳng có lý do gì để tin nó khi nó mách bảo cho chúng ta về bất cứ điều gì, gồm cả chính nó và các nguyên tử. Do thế, nếu ở đây chẳng có gì ngoại trừ những nguyên tử, chúng ta chẳng có lý do gì để tin rằng ở đây chẳng có gì ngoại trừ những phân tử.
Nếu chủ nghĩa duy vật không đúng, điều này nghĩa là có một thực thể phi vật chất hiện hữu. Và thực tại phi vật chất ấy – thường được gọi là tinh thần hay linh hồn – không cần tuỳ thuộc vào những quy luật của thực tại vật chất, gồm cả quy luật phải chết.

Luận chứng từ sự Công bình Tối hậu.

Vì sự công bình thường không được thực hiện trong một hành trình vắn vỏi của đời người trên trái đất, hoặc (1) sự công bình phải được thực hiện trong một hành trình dài – trong trường hợp này phải có một “hành trình dài”, một đời sống sau cái chết – hoặc một cái gì đó khác (2). Đòi hỏi thiết yếu mà này cho chúng ta biết ý nghĩa luân lý và công bình tối hậu thì không được đáp ứng bởi thực tại nhưng chỉ là một sự tránh né mang tính chủ quan của tâm lý con người – trong trường hợp đó, sẽ chẳng có một nền tảng nào trong thực tại thỏa mãn những khuynh chiều luân lý sâu xa nhất của chúng ta, không có môt hiệu lực khách quan hay sự biện minh cho công bình. Mệnh đề “Tôi muốn công bình” chỉ nói vài điều về chúng ta, giống như “Tôi cảm thấy muốn ốm,” không phải về thực tại khách quan, không phải điều thực sự là hay điều thực sự nên là.

Luận chứng này không minh chứng được đời sau một cách đơn giản và hoàn toàn, nhưng nó cho thấy cái giá nào phải trả cho việc từ chối nó: cái giá về tầm quan trọng mang tính luân lý. Một khi chúng ta không còn tin rằng giá trị luân lý có một cơ sở trong thực tại khách quan, một khi chúng ta bắt đầu tin rằng giá trị luân lý không gì hơn là những cảm xúc và ước muốn chủ quan, một khi chúng ta giảm thiểu công bình từ một định luật của vũ trụ xuống một sở thích riêng tư, chúng ta không còn xem nó như một sự bó buộc hay phải sợ hãi, để rồi không tuân theo nó khi nó mang lại bất tiện. Như Dostoyevsky ghi chú, “Nếu không có sự bất tử, mọi thứ đều được cho phép.”

Cuộc đánh cược của Pascal

Đối với Pascal, cuộc đánh cược là một luận chứng về việc tin vào Thiên Chúa. Nó cũng có thể được sử dụng như là một luận chứng cho việc tin vào đời sau.

Đối với những người có khuynh hướng ngờ vực, những luận chứng dựa trên sự kiện chúng ta không biết điều gì – những luận chứng từ sự vô tri – thì thuyết phục hơn những luận chứng dựa trên những kiến thức giả định, điều mà người hoài nghi có thể đặt vấn đề.  Ví dụ, đối với một người hoài nghi như thế, thì một luận chứng chống lại việc phá thai khởi đi từ sự kiện bạn không thể đoan chắc rằng bào thai không phải là một con người thì mạnh hơn luận chứng khởi đi từ tiền đề chúng ta biết chắc rằng bào thai là một con người.

Luận chứng “đánh cược” không chứng minh rằng có sự tồn tại của đời sau, nó chỉ chứng minh rằng thật ngu ngốc khi không tin vào đời sau.

Nếu lời tuyên bố của người Kitô giáo là đúng, thì cơ hội duy nhất để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu là phải tin. “Bất cứ ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Có lẽ điều ấy sai – nhưng cũng có thể đúng. Thật ngớ ngẩn nếu lờ đi khả thể thứ hai. “Vì ích lợi gì nếu một người đạt được cả thế gian mà mất linh hồn?” (Mc 8,36).

Luận chứng từ Seknsucht (Ước muốn mãnh liệt)

Đại tiền đề: Mọi ước muốn tự nhiên bẩm sinh ở trong chúng ta – khác biệt với ước muốn có điều kiện hay tự tạo – tương ứng với một đối tượng thực sự có thể đáp ứng mong muốn đó. Nếu đói, thì có thực phẩm; nếu khát, thì uống; nếu ham muốn tình dục, thì có giới tính; nếu tò mò muốn biết, thì có kiến thức, nếu cô đơn, thì có xã hội. Thật là điều hết sức lạ lùng nếu chúng ta thấy những sinh vật đang yêu trong một thế giới không có giới tính.

Tiểu tiền đề: Trong chúng ta có một ước muốn mà không có gì trong cuộc sống này có thể đáp ứng được, một ước muốn mãnh liệt (Sehnsucht) khác với tất cả những ước muốn khác trong đó đối tượng của nó là không thể định nghĩa được và không thể đạt trong cuộc đời này.
Mặc dù chúng ta không hiểu rõ chính xác điều chúng ta muốn là gì, trong thực tế tự bản chất mọi người chúng ta đều mong muốn một cõi cực lạc, một thiên đường, vĩnh cửu, một đời sống thần thiêng. Thánh Âu Tinh nói, “Trái tim của chúng ta bồn chồn khắc khoải cho đến khi tìm nghỉ ngơi trong Ngài” – ngay cả khi chúng ta không biết “Ngài” đây là ai hoặc cái gì”. Một cái gì đó sâu thẳm trong linh hồn của chúng ta không được thỏa mãn  trong cả thế giới thời gian và phải chết này.

Kết luận: Vì thế, đời sống vĩnh cửu tồn tại.

Nại một điều gì cho thấy rằng phải có một sự thay thế, một điều gì đó nhiều hơn và tốt hơn. Chúng ta không phàn nàn về sự hiện hữu, hoặc về 2 + 2 = 4. Nhưng chúng ta phàn nàn về đau khổ, sự thiếu hiểu biết và nghèo đói. Chúng ta cũng phàn nàn về thời gian, bao giờ đủ thời gian, ngay cả bây giờ, và chắc chắn khi chúng ta hấp hối. Chúng ta muốn nhiều thời gian hơn;  chúng ta muốn sự vĩnh hằng. Vì vậy phải có sự vĩnh hằng. Chúng ta phàn nàn về thế giới này. Nó không bao giờ là đủ tốt. Vì vậy phải có một thế giới khác đủ tốt. Chúng ta không thể đạt được nó, cũng giống như chúng ta có thể chết vì đói. Nhưng sự khát mong bẩm sinh về thế giới đó chứng minh rằng nó tồn tại, giống như sự đói khát bẩm sinh về thực phẩm chứng minh rằng thực phẩm tồn tại.

Luận chứng từ Tình Yêu

Luận chứng từ tình yêu, được khởi hứng bởi Gabriel Marcel, thì ít “chặt chẽ”, nhưng sâu xa hơn so với hầu hết những luận chứng khác, nó phụ thuộc nhiều vào một “cuộc gặp gỡ” hơn về sự bó buộc luận lý nghiêm ngặt. Tuy nhiên, nó có thể được thiết lập một cách logic như sau.

1. Tình yêu ở đây có nghĩa là agape, không là eros; tình yêu trao ban, chứ không phải tình yêu đòi hỏi, tình yêu vì người khác nhau, chứ không phải tình yêu vì lạc thú.

2. Tình yêu này thì không mù quáng. Nó có đôi mắt. “Con tim có lý lẽ của nó.” Tất cả chúng ta đều biết điều này theo bản năng, vì nếu chúng ta được hỏi rằng ai là người hiểu biết chúng ta nhất, một người kém thông minh yêu thương chúng ta nhiều hơn hay một người thông minh yêu thương chúng ta ít hơn, chúng ta đều biết rằng người yêu thương chúng ta nhất thì biết chúng ta nhất. Eros có thể mù quáng, nhưng agape thì đối nghịch lại sự mù quáng. Làm thế nào tình yêu có thể mù quáng nếu Thiên Chúa là tình yêu? Thiên Chúa thì không mù quáng!

3. Điều mà tình yêu thấy chính là giá trị nội tại của người yêu. Nếu tôi không yêu bạn, tôi thấy bạn như là một trong nhiều đối tượng trong thế giới của tôi – một điều gì đó có thể thay thế, như một cầu thủ bóng chày hay một diễn viên. Giá trị của bạn là khả năng của bạn  thực hiện những chức năng nào đó, mà những người khác cũng có thể thực hiện, vì vậy bạn không phải là không thể thiếu. Nhưng một điều mà không ai có thể làm được là trở nên bạn. Tôi biết sự tất yếu của bạn chỉ khi tôi yêu bạn vì lợi ích của riêng bạn, không vì lợi ích của tôi hoặc vì lợi ích mục đích của bạn.

4. Trên cơ sở này, bây giờ tôi có thể lập luận rằng điều  không thể chấp nhận được về mặt luân lý là: điều không thể thiếu lại thiếu, điều không thay thế lại bị thay thế.

5. Tại sao tình trạng không thể chấp nhận được về mặt luân lý này lại không có thể là thật được ? Bởi vì nếu nó là thật, thì thực tại – tối hậu, thực tại phổ quát và mang tính hoàn vũ – rốt cục sẽ làm cho tất cả mọi người những gì là không thể chấp nhận được về mặt luân lý, những gì chúng ta không bao giờ nên làm, trong trường hợp đó, giá trị của chúng ta sẽ không có mặt trong thực tại.

6. Vì vậy, hoặc là giá trị luân lý là không có căn cứ, hoặc con người không phải bị loại trừ nhưng sống mãi mãi. Con mắt của cái chết có vẻ như để nhìn thấy phần khuất của tình yêu, nhưng con mắt của tình yêu nhìn thấy phần khuất của cái chết. Do đó CS Lewis có thể viết những lời đáng lưu tâm trên mộ chí của người bạn Charles Wiliams mình như sau: “Không có sự kiện nào chứng thực niềm tin của tôi về đời sau như Charles Williams đã làm đơn giản chỉ bằng chết. Vì khi ý tưởng về cái chết và ý tưởng của Williams gặp nhau trong tâm trí của tôi, đó là ý tưởng của cái chết đã được thay đổi. “

Điểm yếu của luận chứng này là sự yếu đuối của chính tình yêu: nó tự do, không phải là một sự ép buộc. Nếu bạn không chọn để yêu, thì bạn sẽ không gặp gỡ. Nhưng nếu bạn thực sự muốn biết, bạn có thể thực hiện các thử nghiệm thích hợp. Con đường đến sự chắc chắn về sự bất tử có thể là một thử nghiệm tích cực, không chỉ là một suy nghĩ, và điều này có thể là nhiều hơn, chứ không ít hơn, thuyết phục hơn bất kỳ luận chứng lý thuyết nào. Như nhân vật Cha Zossima của tác giả Dostoyevsky nói trong tác phẩm Anh em nhà  Karamazov với “người phụ nữ kém đức tin” là người thắc mắc làm thế nào để lấy lại niềm tin của cô bị mất về sự bất tử, “Theo mức độ bạn tiến tới trong tình yêu, bạn sẽ chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và về sự bất tử của linh hồn. Điều này đã được kiểm nghiệm. Điều này là chắc chắn.” Con đường này được dành cho mọi người tìm kiếm chân thành với lời hứa rằng nếu họ thực sự tìm kiếm nó họ chắc chắn sẽ thấy.

Luận chứng từ Phục sinh của Chúa Kitô

Điều gì sẽ là bằng chứng thuyết phục nhất cho sự sống đời sau? Những người hoài nghi có lẽ sẽ trả lời: Chỉ khi chúng ta có thể nhìn thấy và đụng chạm một người chết, người đã sống lại và tỏ mình ra cho chúng ta, chúng ta mới có thể hoàn toàn chắc chắn.

Một người chết đã sống lại và hiện ra cho nhiều người trên trái đất này. Chúa Kitô phục sinh đã được nhìn thấy và được đụng chạm (1 Ga 1:1-3). Người Kitô hữu được đảm bảo cuộc sống đời sau trước hết không phải thông qua các luận chứng, nhưng thông qua các nhân chứng. Giáo Hội là chuỗi của các nhân chứng, bắt đầu với các tông đồ.

Vì thế câu trả lời của người Kitô hữu cho câu hỏi đáng nghi ngờ nhất, “Bạn thực sự biết điều gì về cuộc sống sau khi chết? Bạn có bao giờ ở đó chưa? Bạn trở lại để nói cho chúng tôi hay chứ?” là “Không, nhưng tôi có một người bạn rất tốt, người đã làm như thế.”

Nguyên tác: Pocket Handbook of Christian Apologetics
Tác giả: Peter Kreeft, Ronald K. Tacelli
(dongten.net)

SỐNG ĐẠO HÔM NAY: Nạn MÙ đạo

Người lớn là những người đầu tiên phải bắt quay lại trường học 

Rất nhiều giám mục và linh mục nghĩ rằng người ta có thể giải quyết vấn nạn sa sút Đức Tin bằng việc đặt cược trên những người còn rất trẻ. Giáo sư Pietro De Marco phản đối: Đó là một sai lầm lớn. Chính người lớn mới là những người quyết định thành bại của Năm Thánh Đức Tin. Lấy ví dụ trường hợp nước Ý.

Sandro Magister


mu_duc_tin-300x275.jpg

Năm Thánh Đức Tin được Đức Thánh Cha Biển-Đức XVI hình dung và sắp đặt đã đến. Nó bắt đầu vào ngày 11/10. 50 năm sau ngày khai mạc Công Đồng Vatican II và 20 năm sau ngày công bố cuốn Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, được Đức Biển-Đức XVI coi như là tài liệu quan trọng nhất được đưa ra cho tới nay hầu đạt được mục tiêu đầu tiên của Công Đồng: làm sống lại Đức Tin.

Với Giáo Hoàng Joseph Ratzinger, quả thật, sự biến mất của Đức Tin, gồm cả trong nhiều nước có truyền thống Kitô giáo lâu đời, là khó khăn chính mà Giáo Hội đang trải qua ngày nay. Liên quan đến nước Đức nơi chôn nhau cắt rốn của Người, số người không tin vào bất kỳ tôn giáo nào kể từ nay cấu thành số đông dân chúng trong các vùng thuộc Miền Đông nước Đức. Và cũng tương tự ở nước Cộng Hoà Séc. Về phần Ái Nhĩ Lan hiện đang chịu một sự trượt dốc đức tin thình lình mà người ta chỉ còn biết so sánh với sự lao dốc đã xảy ra ở Quebec, một vùng rất Công Giáo chỉ trong rầt ít năm đã trở thành một vùng phi Kitô-giáo hoá trên quy mô lớn. Nhưng ngay cả ở Ý, đất nước được coi như một “luật trừ”, nơi mà một Đạo Công Giáo với một Giáo Hội hiện diện và ăn rễ sâu mạnh mẽ, những nguy cơ suy yếu đức tin rộng lớn và cận kề là hiện thực.

Một cuốn sách phát hành những ngày này với chữ ký của hai nhà xã hội học về các tôn giáo, Massimo Introvigne và PierLuigu Zoccatelli, xác định sô lượng và phân tích sự hiện diện của những người vô thần trong một vùng thuộc miền trung đảo Sicile, mà các chỉ số thường xuyên trùng hợp với các chỉ số trung bình toàn quốc. Cuốn sách có tựa đề “Gentili senza cortile” (Những lương dân không có sân nhà thờ) được nhà xuất bản Edizioni Lussografica de Caltanissetta phát hành. Các tác giả đã nhận thấy sự hiện diện của những người vô thần “mạnh”, nghĩa là những người giải thích chủ nghĩa vô thần của họ bằng các lý do ý thức hệ. Họ tượng trưng 2,4% dân số và phần đông là những người có tuổi và những người theo chủ nghĩa cộng sản đấu tranh lâu năm. Bên cạnh họ, người ta thấy những người vô thần “yếu”, nghĩa là những người cho rằng Thiên Chúa và tôn giáo không quan trọng đối với đời sống của họ, trong đó chỉ có công ăn việc làm, tiền bạc và các quan hệ tình cảm mới đáng kể. Họ tượng trưng 5% dân số và phần nhiều là giới trẻ và những người có học thức.

Nhưng hai tác giả này đẩy phân tích của họ đi xa hơn nữa. Họ thêm vào hai nhóm vô thần “mạnh” và vô thần “yếu”, nhóm những người “xa lìa” Giáo Hội Công Giáo và mọi tôn giáo khác. Một nhóm đông hơn nhiều, bởi vì nó tượng trưng cho hơn 60% dân số. Hai tác giả viết: “Những người “xa lìa” là những kẻ phần đông trong họ không nói mình là vô thần,nhưng đã mất mọi tiếp xúc với tôn giáo: họ đi nhà thờ chỉ duy nhất vì các lễ kết hôn và an táng; nếu họ cho mình là có đạo hoặc thuộc một tôn giáo nào, thì họ quy tụ những niềm tin tạp nham đủ loại. Từ nay đó là một đa số vững chắc của người Ý”.

Luận đề của Introvigne và Zoccatelli có thể làm đối tượng cho các phê bình. Họ có khuynh hướng đồng nhất các tín hữu Công giáo duy nhất với những người đi lễ ngày Chúa Nhật hoặc gần như thế.trong khi Đạo Công giáo Ý trong thực tế được tiêu biểu bởi các mô thức rất đa dạng,theo đó Đạo được thực hành, gồm cả trong các trường hợp giữ đạo yếu kém và ngắt quãng và gồm một số lớn những người mà hai tác giả loại trừ với tính cách là những người “xa lìa”.

Một phân tích về Đạo Công Giào Ỳ ngược lại với phân tích vủa Introvigne và Zoccatelli về nhiều điểm, chẳng hạn, như là của Pietro de Marco,thuộc đại học Florence, cũng là nhà xã hội học về tôn giào. Bài viết của Ông được đăng trong www.chiesa

ÍT THỰC HÀNH VÀ ÍT SỐT SẮNG. NHƯNG CHÍNH HỌ LÀ NHỮNG NGƯỜI LÀM NÊN “GIÁO HỘI CỦA DÂN CHÚNG”

Giáo sư Paolo Segatti, đại học Milan, cũng đồng ý công nhận dấu in Công giáo bền bỉ trong một bộ phậb lớn dân chúng Ý. Nhưng đồng thời,trong một điều tra được nhật báo “Il Regno” số ra ngày 15/05/2010 công bố, Segatti là người đầu tiên đã lưu ý về một nguy cơ đè năng lên tương lai đức tin Công giáo ở Ý. Quả thật, cuỗc điều tra của ông đưa ra ánh sáng một vết gãy ngoạn mục giữa những người sinh sau 1970 – và còn hơn thế là những người sinh sau năm 1981 – và những thế hệ trước đó: “Người ta quả là có cảm tưởng quan sát một thế giới khác. Những người còn rất trẻ, trong những người Ý, lại là những người xa lạ nhất với một trải nghiệm tôn giáo. Họ đi nhà thờ ít hơn thấy rõ, tin vào Chúa ít hơn, cầu nguyện it hơn, ít tin tưởng vào Giáo Hội hơn,ít xưng mình là tín hữu Công giáo hơn và không nghĩ cứ là người Ý thì phải là tín hữu Công giáo”.

Sự sút giảm rõ rệt đến nỗi nó làm biến mất ngay cả những dị biệt vốn, trong các thế hệ cha anh, biểu lộ giữa nam giới và nữ giới, những người này nói chung vốn đi thực hành đạo nhiều hơn. Ở những người cón rất trẻ, nagy cả nữ giới cũng rất ít khi đi nhà thờ,ngang với nam giới. Và nếu người ta nghĩ rằng đức tin chung chung được truyền cho con cái nhờ các bà mẹ của chúng, hoặc rút cuộc chủ yếu cho các bà, thì người ta sẽ không phải lo âu rằng việc truyền tải [đức tin] này có nguy cơ bị gián đoạn khi những người rất trẻ ngày nay đến lượt họ trở thành bậc làm cha làm mẹ. Đó là khía cạnh đầy kịch tính nhấy của điều mà các giám mục Ý và chính bản thân Đức Biển Đức XVI gọi là “việc cấp bách giáo dục”.

Với sự cấp bách này – không phải chỉ riêng với Ý,mà người ta tìm thấy trong rất nhiều quốc gia – Giáo Hội Công giáo thường có xu hướng đáp lại bằng việc đặc cược vào một mục vụ đã được chọn làm đích ngắm, vào những người rất trẻ. Nếu chính họ là những người cấu thành điểm yếu – người ta cho là vậy – thì đúng là phải hành động với họ. Một hành động đúng tầm với họ. Với hy bọng rằng, khi họ trở thành người lớn, đức tin của họ cũng sẽ trở nên trưởmg thành.

Nhưng đó có phải là một ý tốt chăng? Theo giáo sư De Marco thì không. Đó là một nhầm lẫn nghiêm trọng. Và sau đây ông giải thích tại sao.

TRƯỚC TIÊN ĐÀO TẠO NGƯỜI LỚN VỚI NHỮNG NỘI DUNG CHO NGƯỜI LỚN (Pietro De Marco)

Người ta được hay các Giám mục vùng Venise – các Vị này cấu thành ví dụ gần đây nhất của một loạt mà người ta chỉ gặp ở Ý - có ý định cách mạng thời khắc và trật tự trong đó các trẻ em và người lờn nhận các bí tích khai tâm Kitô giáo, bằng việc nhân rộng “một cách có phương pháp sư phạm” các biến cố, các động tác nghi thức và các biểu tượng. Nhưng không phải vấn đề then chốt “sự cấp bách giáo dục”, chung chung và Kitô giáo,cũng không phải là mối bận tâm lo lắng mà Năm Thánh Đức Tin diễn tả, là chủ yếu do người lớn tạo ra. Và bất luận thế nào, sẽ chẳng tốt nếu bắt phải đương đầu bằng các phương pháp sư phạm “trường học tích cực” vốn đã đóng góp vào sự cấp bách này. Vấn đề ở chỗ do chính những người lớn tạo ra, những người vốn là các tín hữu giáo dân trưởng thành trong nghĩa rộng nhất của từ này.

Ta hãy xem xét yếu tố đầu tiên làm phát sinh “sự cấp bách” này, tức là “truyền thống, nghĩa là sự truyền tải đừc tin và văn hoá từ một thế hệ này sang một thế hệ khác. Sự đào tạo chính là văn hoá của một nền văn minh ý thức được chính mình. Ở đó người lớn củng cố và thử thách kết cầu riêng của nó, sự xã hội hoá đã được thực hiện.

Nếu có một điều gì đó như là một “sự đào tạo người lớn”, thì trước hết, sự hiện hữu trưởng thành bị thử thách. Nhưng cùng lúc người lớn có liên hệ cấu tạo với các thế hệ non trẻ hơn. Và cùng với các thế hệ này, người lớn luôn ở trong một mối liên hệ xã hội không đối xứng, xét về tuổi tác và vai trò. Một xã hội là văn hoá và thực hành sự bất đối xứng có tính thế hệ.

Hơn nữa, người lớn là phía đối tác của các quy trình và các các chấn thương việc nhận diện đi kèm theo việc xây dựng căn tính cá nhân. Tóm lại, người lớn là môi trường chính của hữu thể đang thành hình,cả khi các thanh thiếu niên ẩn mình trong các cộng đồng các cặp, tự nhiên hoặc điện tử.

Tham vọng đương thời nói theo kiểu mô phạm, quan niệm người lớn như là một “cái tôi” bất diệt phải hình thành và do vậy như một học trò vĩnh viễn của nhà giáo duc sáng suốt. Song không phải là như vậy. Người lớn lúc nào cũng vẫn là diễn viên chủ đạo và tự do của vở kịch xã hội. Không quên rằng cái “người kia” so với người thanh thiều niên quả thật là một tinh tú được cấu tạo bằng những dị biệt và mâu thuẫn. Chính vì vậy mà việc xã hội hoá gia đình bị coi thường và bị xói mòn do sự hội tụ của tất cả những thực hành đào tạo khác. Đó là trường hợp của nhà trường, so với những “cơ quan” khác.

Tình trạng tuổi thanh thiếu niên,tóm lại, bị ảnh hưởng bởi những mạng lưới người lớn rất dày đặc vốn cạnh tranh nhau và không ổn định trong thời gian. Do đó nếu những người lớn là môi trường trong đó có những người đang hình thành và nếu môi trường này hay thay đổi và đầy mâu thuẫn xung đột, – nếu nó cấu thành một “sự cấp bách giáo dục” – thì chính họ, những người lớn, pải được đặ lại ở trung tâm sự lo lắng bận tâm Kitô giáo về vấn đề giáo dục. NGƯỜI LỚN LÀ NHỮNG NGƯỜI ĐẦU TIÊN PHẢI BẮT QUAY LẠI TRƯỜNG HỌC


Nguồn: xuanbichvietnam

WORLD TIME

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------