Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2020

Những bức tượng kỳ dị 
thách thức tất cả các quy luật vật lý

Những bức tượng độc đáo và kỳ lạ cho thấy sức sáng tạo và sự khéo léo của con người thật là vô hạn.



Nghệ thuật điêu khắc hiện đại đã phát triển đến mức kì diệu. Nhiều bức tượng không chỉ là một khối đất, đá, sắt, thép được ghép lại vào hình hài đơn thuần mà sâu xa hơn, chúng còn truyền tải những thông điệp của người nghệ sĩ. Đó có thể là cảm xúc tuôn trào, niềm yêu thiên nhiên, góc nhìn quái lạ hay thậm chí là vấn đề về triết học, biến đổi khí hậu...

Điêu khắc là một phương tiện tuyệt vời để các nghệ sĩ tài ba chơi trò ảo thuật với mắt và gây rối với các khái niệm logic của người xem.


Dưới đây là những tác phẩm được đánh giá là siêu thực, vì nó đi ngược lại các quy luật vật lý thông thường:


Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 1.

Bức tượng "The Force of Nature" (Sức mạnh của thiên nhiên) ở thành phố Doha, Quatar. Đây là tác phẩm điêu khắc của nghệ sĩ người Ý, Lorenzo Quinn với ý nghĩa ca ngợi công lao và sức mạnh của mẹ thiên nhiên trong công cuộc lập nên vũ trụ.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 2.

Bức tượng nàng tiên nhảy múa cùng hoa bồ công anh đầy ấn tượng của Robin Wight ở Anh.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 3.

Bức tượng có tên Wursa của nhà điêu khắc Daniel Firman.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 4.

Tác phẩm Trans Ī Re của Fredrik Raddum.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 5.

Tác phẩm Floating Stone của Smaban Abbas. Hai hòn đá như lơ lửng trên không trung mà không có bất kỳ vật gì nâng đỡ.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 6.

Tác phẩm "Cà phê hôn" của nghệ sĩ Johnson Tsang.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 7.

Tác phẩm có tên Les Voyageurs - bức tượng bằng đồng đang "tàng hình" vào không gian xung quanh. Tác phẩm điêu khắc này của Bruno Catalano người Pháp.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 8.

Tác phẩm có tên Vaartkapoen của Tom Frantzen.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 9.

Tác phẩm Balancing Sculptures (Tạm dịch: Những bức tượng thăng bằng) của Jerzy Kędziora.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 10.

Những tác phẩm nghệ thuật xuất hiện trong Festival of Speed thường niên tại Goodwood của tác giả Gerry Judah. Hiện nay, anh đang làm việc với những thương hiệu nổi tiếng trong ngành công nghiệp ô tô.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 11.

Tác phẩm Pentateuque của Fabien Mérelle.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 12.

Tác phẩm Virgins Of Apeldoorn của tác giả Elis.us Stienstra.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 13.

Tác phẩm Abedo của tác giả Emil Alzamora.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 14.

Expansion là một trong những "điểm sáng" của nền nghệ thuật nói chung và điêu khắc hiện đại nói riêng. Theo chia sẻ của Page Bradley, người khai sinh ra tác phẩm này, Expansion ra đời đã xóa tan ngờ vực của mọi người đối với sức bật của môn nghệ thuật điêu khắc.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 15.

The Anonymous Pedestrians hay còn gọi là "Những kẻ bộ hành vô danh" là một tác phẩm điêu khắc nổi tiếng của đất nước Ba Lan.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 16.

 

Hippopotamus là tác phẩm điêu khắc từ đá được đặt tại khuôn viên của Vườn bách thú Đài Bắc.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 17.

Với chất liệu chủ yếu là những dây kim loại đen mịn, người nghệ sĩ điêu khắc tài ba Kendra Haste đã tạo nên một bức tượng đài về những con sư tử dũng mãnh ngày đêm vươn mình bảo vệ Tháp London.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 18.

Maman Spider, bức tượng điêu khắc từ đồng, thép và đá cẩm thạch, là một công trình nghệ thuật nổi tiếng do nghệ sĩ Louise Bourgeois tạo nên vào năm 1999.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 19.

Bức tượng có tên "The Bather" ở Đức.

Những bức tượng kỳ dị thách thức tất cả các quy luật vật lý, khiến người ta càng nhìn càng xuýt xoa và sợ hãi - Ảnh 20.

Bàn tay mọc lên từ Kênh Lớn ở Ý, như đang cứu lấy thành phố Venice khỏi nguy cơ chìm xuống nước hoàn toàn. Đây là dự án sáng tạo của nghệ sĩ Lorenzo Quinn nhằm nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu.

-----------------------

THE INTERNET

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2020

 13 loại chất độc khủng khiếp nhất thế giới




 

Khi nghĩ đến chất độc, chúng ta thường nghĩ ngay đến những cái tên nổi tiếng như cyanua, thạch tín, hay strychnine. Tuy nhiên chúng không phải là những chất độc nhất từng được biết đến.

Việc đánh giá độc tính của một chất không phải là một điều đơn giản. Ví dụ, nếu bạn nuốt thủy ngân lỏng thì phần lớn trường hợp chúng sẽ được thải ra ngoài mà không gây ra bất kì tổn hại nào. Tuy nhiên, nếu chúng ta hít phải hơi thủy ngân thì mọi chuyện sẽ cực kì tồi tệ.

13. Brodifacoum

Brodifacoum là một hóa chất diệt thú vật bằng cách ngăn đông máu, dẫn đến chảy máu trong liên tục.
Brodifacoum là một hóa chất diệt thú vật bằng cách ngăn đông máu, dẫn đến chảy máu trong liên tục.

Brodifacoum là một chất chống đông máu rất mạnh làm giảm mật độ vitamin K trong máu, gây chảy máu trong và tử vong. Nó được bán dưới dạng thuốc diệt chuột có những tên như Talon, Jaguar và Havoc. Con người và thú cưng cũng sẽ phải chịu tình cảnh tương tự dù chỉ chạm nhẹ vào vật nhiễm độc. Chất độc thẩm thấu qua da và được giữ lại trong cơ thể trong nhiều tháng. Những động vật ăn phải loài gặm nhấm nhiễm độc cũng có nguy cơ dính phải.

12. Cyanide (xyanua)

Hạt táo có chứa Cyanide
Hạt táo có chứa Cyanide.

Cyanide có lẽ là chất độc nổi tiếng nhất vì nó được dùng trong rất nhiều vụ tấn công khủng bố. Nếu một người hít hoặc hấp thụ Cyanide qua đường tiêu hóa, người đó sẽ chết trong vòng 20 giây do ngạt thở.

Các nhà khoa học nói rằng Cyanide và Strychnine là khá giống nhau về độc tính, nhưng Cyanide có tiếng tâm hơn nhiều. Hợp chất hóa học này có thể được tìm thấy trong các nhà máy, vi khuẩn, nấm và trong hạt của một số loại trái cây.

Hạt táo có chứa Cyanide, tuy nhiên, bạn chỉ có thể ngộ độc khi nhai và nuốt ít nhất 150 hạt táo, điều này sẽ khiến bạn co giật, suy hô hấp, trụy tim và chết trong vòng vài giây.

11. Thạch tín

Thạch tín

Độc tố phổ biến này sẽ không nguy hiểm khi ở liều lượng nhỏ. Trên thực tế, một báo cáo vào năm 2017 cho biết, 2 triệu người Mỹ thường xuyên tiếp xúc với thạch tín từ nước giếng.

Tiếp xúc với thạch tín trong thời gian dài sẽ dẫn đến ung thư, còn nếu sử dụng một lượng lớn thạch tín pha vào thức uống (không mùi, không vị), bạn sẽ chết.

Đó cũng là lý do tại sao thạch tín lại được những kẻ giết người ưa chuộng trong thế kỷ 19 ở Anh. Ói mửa, tiêu chảy là triệu chứng đầu tiên, tùy vào liều lượng mà cái chết sẽ đến trong vòng 2 giờ cho tới 2 ngày.

10. Botulinum 

Botulinum

Botulinum độc gấp 40 triệu lần Cyanide và có thể giết chết một người chỉ với một lượng bằng 80 nanogram. Các triệu chứng bao gồm việc đầu tiên mặt bạn sẽ tê liệt, sau đó là đến chân tay và cơ quan hô hấp của bạn.

Thật không may, như đã đề cập ở đầu bài, loại độc này có thể xuất hiện trong thực phẩm mặc dù rất hiếm, vì vậy nếu sau khi ăn thứ gì đó mà cảm thấy cơ mặt bắt đầu tê liệt và không thể nói được hãy đến bệnh viện nhanh nhất có thể.

9. Thủy ngân

Thủy Ngân

Thủy ngân tồn tại một cách tự nhiên trong không khí, nước và đất, nhưng nó rất nguy hiểm khi được hình thành bên trong cá và trở thành Methylmercury. Vì đây là con đường dễ nhất để thủy ngân đi vào cơ thể chúng ta khi ăn phải. Nó nằm ở thứ hạng cao trong danh sách bởi vì chỉ một lượng rất nhỏ thủy ngân cũng có thể gây tử vong.

Đã từng có nhiều vụ tử vong khi tiếp xúc với thủy ngân, trong số đó là một nhà khoa học Anh vào năm 1996. Cô đã thực hiện tất cả các biện pháp an toàn khi làm việc với chất độc hại nhưng vẫn gặp nguy hiểm khi nhỏ 2 giọt thủy ngân lên tay mặc dù đã mang găng bảo vệ, trong vài tuần sau đó, cô bị suy giảm thần kinh, hôn mê và tử vong.

8. Strychnine

Strychnine

Strychnine là một chất được tìm thấy với liều lượng cao trong cây mã tiền được bào chế thành nhiều loại thuốc khác nhau. Nguyên nhân gây tử vong chủ yếu bao gồm uống nhầm rượu xoa bóp có ngâm hạt mã tiền, ngộ độc thuốc trừ sâu chứa Strychnine, sử dụng các chế phẩm ma túy như Cocain và Heroin có pha Strychnine hoặc thậm chí bị ô nhiễm thực phẩm và nước.

Nếu bị đầu độc, bạn sẽ biết trong vòng 15-60 phút bởi các triệu chứng lo lắng, đau cơ, co thắt và ở liều cao sẽ dẫn đến suy hô hấp và chết não. Nếu bạn cố cầm cự và vượt qua 12 giờ, bạn có thể sống sót.

7. Polonium

Polonium
. Về lý thuyết, một gam Polonium 210 có thể giết chết 10 triệu người nếu ăn phải.

Được phát hiện vào năm 1898, các nguyên tố phóng xạ Polonium là nguyên nhân gây ra cái chết của Yasser Arafat, nhà lãnh đạo Palestin bất đồng chính kiến với Nga. Polonium được liệt vào danh sách các chất độc nguy hiểm nhất của thế kỉ 21. Nó không được sử dụng trong nghiên cứu sinh học vì vô cùng nguy hiểm cho tất cả các sinh vật sống. Hình thức phổ biến nhất của nó là Polonium 210, nó bị báo buộc nguy hiểm gấp 250.000 lần hydri cyanide. Điều này giải thích tại sao Mỹ dùng Polonium để thả xuống Nagasaki với những gì họ cho là dự án Dyton của Mahattan. Về lý thuyết, một gam Polonium 210 có thể giết chết 10 triệu người nếu ăn phải, tiêm hoặc hít. Bức xạ của nó có thể gây ung thư cho con người.

6. Tetrodotoxin

Cá nóc
Chất độc này bắt nguồn từ cá nóc.

Viết tắt là TTX, Tetrodotoxin là một chất độc thần kinh gây tử vong có tên bắt nguồn từ cá nóc. Nếu bạn ăn phải chất độc cá nóc, bạn sẽ gặp những triệu chứng như liệt miêng, rối loạn, liên tiếp những cơn co giật, hôn mê và cuối cùng là cái chết. Tất cả chỉ xảy ra trong vòng 17 phút hoặc tối đa là 6h. TTX đứng đầu trong danh sách các chất độc giết người.

Chỉ cần một lượng rất nhỏ những chất này cũng đủ làm bạn tử vong.
Chỉ cần một lượng rất nhỏ những chất này cũng đủ làm bạn tử vong. (Nguồn ảnh: AMC).

Sau đây là 5 loại chất độc mạnh nhất thế giới từng được biết đến. Chúng độc gấp hàng trăm lần so với các chất kịch độc như xyanua hay strychnine.

5. Chất độc Ricin

Ricin được trích xuất từ hạt của cây thầu dầu (Ricinus communis).
Ricin được trích xuất từ hạt của cây thầu dầu (Ricinus communis). (Nguồn ảnh: Flickr).

Chất độc thực vật cực kỳ độc hại này đã được sử dụng để giết chính trị gia nổi tiếng Bulgaria Georgi Markov khi ông đang sống lưu vong ở London. Vào ngày 07 tháng 9 năm 1978, khi Markov đang đứng chờ xe buýt gần Waterloo Bridge (Anh) thì ông bất ngờ cảm thấy có cái gì đó chạm vào đùi của mình.

Ông nhìn ra phía sau và thấy một người đàn ông đang cúi xuống nhặt một chiếc ô. Markov lập tức cảm thấy bị hoa mắt và ngất xỉu ngay ở trạm xe buýt. Ông được đưa tới bệnh viện với triệu chứng sốt cao và qua đời ba ngày sau đó.

Khám nghiệm tử thi cho thấy một quả cầu rất nhỏ làm bằng một hợp kim platinum-iridium dính trên đùi Markov. Quả cầu có phủ nhiều kim nhỏ được bôi một ít chất ricin và chính chất này là nguyên nhân gây ra tử vong.

Ricin được trích xuất từ hạt của cây thầu dầu (Ricinus communis). Chất này là một loại glycoprotein gây cản trở quá trình tổng hợp protein và từ đó gây chết tế bào. Chỉ cần 1mg cho mỗi kg cơ thể người cũng đủ làm tử vong nạn nhân.

4. Chất độc VX

Năm 1950, VX đã bị cấm trên toàn thế giới vì quá mức độc hại.
Năm 1950, VX đã bị cấm trên toàn thế giới vì quá mức độc hại. (Nguồn ảnh: zidbits).

VX là một chất độc thần kinh trích xuất từ dầu nhớt bôi trơn động cơ. Ban đầu, loại chất này được phát minh và sử dụng trong thuốc trừ sâu. Tuy nhiên đến năm 1950, VX đã bị cấm trên toàn thế giới vì quá mức độc hại. VX can thiệp quá trình truyền tải thông điệp thần kinh giữa các tế bào bằng cách tác động lên một loại phân tử có tên là acetylcholine.

Sau khi acetylcholine đã truyền đi thông điệp thần kinh, chúng cần phải được phá hủy bằng một loại enzyme có tên là acetylcholinesterase. Nếu không chúng sẽ tiếp tục gửi đi tín hiệu mãi mãi. VX ngăn chặn hoạt động của enzyme acetylcholinesterase, khiến cho acetylcholine hoạt động liên tục. Từ đó cơ bắp của bạn sẽ mất kiểm soát và bạn sẽ chết vì co thắt và ngạt thở.

3. Chất độc Batrachotoxin

Chất độc Batrachotoxin được lấy từ những con ếch độc.
Chất độc Batrachotoxin được lấy từ những con ếch độc. (Nguồn ảnh: musemalady).

Có lẽ chúng ta đều quen thuộc với hình ảnh của những người da đỏ Nam Mỹ sử dụng ống thổi phi tiêu để đi săn bắt động vật. Nhưng đã có bao giờ bạn nghĩ rằng vì sao nhưng chiếc phi tiêu bé tẹo như vậy lại có thể giết được cả một con trâu? Đó là vì chúng đã được tẩm một loại chất kịch độc có tên là Batrachotoxin lấy từ những con ếch độc.

Những người thổ dân sẽ cố gắng bắt những chú ếch càng có màu sắc sặc sỡ càng tốt và nướng chúng trên ngọn lửa. Những con ếch này sẽ chảy ra chất độc và những thổ dân sẽ hứng lấy rồi bôi lên phi tiêu.

Batrachotoxin gây tử vong bằng cách tác động lên các kênh ion Na + trong tế bào của cơ bắp và dây thần kinh, khiến cho chúng không thể đóng khép lại được. Điều này sẽ khiến cho dòng ion Na + lưu chuyển liên tục và từ đó gây ra chết do suy tim.

Tuy nhiên, điều thú vị ở đây là bản thân những con ếch vốn không độc. Độc tố mà chúng có được là nhờ những con bọ cánh cứng mà chúng hay ăn trong rừng.

2. Chất độc Maitotoxin

Đây là loại độc chất nguy hiểm nhất tồn tại trong cơ thể của các động vật biển.
Đây là loại độc chất nguy hiểm nhất tồn tại trong cơ thể của các động vật biển. (Nguồn ảnh: Flickr).

Maitotoxin là loại độc chất nguy hiểm nhất tồn tại trong cơ thể của các động vật biển. Loại độc chất này được hình thành trong một loại tảo và có cấu trúc rất phức tạp. Vì thế chúng rất khó để tổng hợp nhân tạo. Maitotoxin sẽ làm tăng dòng chảy của các ion canxi qua màng tế bào cơ tim, gây suy tim và tử vong.

1. Chất độc Botulinum toxin

Chỉ cần một nanogram trên mỗi kg cơ thể của chất này cũng đủ làm tử vong ngay lập tức.
Chỉ cần một nanogram trên mỗi kg cơ thể của chất này cũng đủ làm tử vong ngay lập tức. (Nguồn ảnh: npr).

Các nhà khoa học hiện nay đều đồng ý rằng botulinum toxin, một hợp chất được sản xuất bởi những vi khuẩn kỵ khí, là chất độc nhất được biết đến. Chỉ cần một nanogram trên mỗi kg cơ thể của chất này cũng đủ làm tử vong ngay lập tức.

Có nhiều loại độc tố botulinum khác nhau với loại A là loại mạnh nhất. Cấu trúc của chất này là một polypeptide, bao gồm hơn 1.000 phân tử axit amin nối với nhau. Chúng gây tê liệt cơ bắp bằng cách ngăn chặn việc tạo ra các phân tử thần kinh acetylcholine.

Tuy nhiên, loại chất này lại được áp dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm và làm đẹp. Một lượng nhỏ vừa đủ của botulinum sẽ làm các bó cơ mặt ngưng hoạt động và từ đó giảm thiểu nếp nhăn.

-----------------------

INTERNET

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2020

TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI:
PHẢI CHĂNG LÀ CHUYỆN KHÔNG ĐÁNG?


Chúa Giêsu, trong hành trình rao giảng Nước Trời, không dùng hình ảnh cao xa hay trên mây trên gió để trình bày về Nước Trời. Nước Trời mà Chúa nói tựa như viên ngọc quý, tựa như gia tài quý báu ... và có lẽ nhiều nhất vẫn là hình ảnh của bữa tiệc cưới. Trong những ngày này, ta được Chúa mời gọi nhìn lại Nước Trời qua khung cảnh của tiệc cưới.
Ngày hôm nay, khi nghe về tiệc cưới Nước Trời xem ra là chuyện xa sỉ, là chuyện của ai đó, là của người khác chứ kông phải là của ta. Nghe thì nghe vậy nhưng có suy nghĩ, có sống hay không mới là chuyện quan trọng.
Tiệc đã sẵn và khách đã được mời ! Thế nhưng rồi những người được mời đã từ chối lời mời của chủ. Tất cả lời từ chối xem ra là hợp tình, hợp lý và không có gì để chủ tiệc bắt bẻ.
Xem chừng những lý do từ chối hợp lý với cuộc đời này thế nhưng rồi bất hợp lý với chuyện tương lai, chuyện vĩnh cửu của đời người. Đơn giản là vì đời người dù thế nào đi chăng nữa cũng chỉ là "vài gang tấc" và tất cả ở trong tay Chúa.
Ta thấy "con người cứ ngỡ trần gian là cõi thật để rồi tất bật tới bây giò" như đã từng nghe ai nói. Mà thật là thế ! Con người ngày hôm nay tất bật hơn bao giờ hết dẫu rầng có quá nhiều tiện lợi trong cuộc sống.
Người ta cần một tô bún ngon, không cần phải bước chân ra ngõ dù là trời mưa to gió lớn. Chỉ cần một cú nhắp chuột hay chỉ cần một cái chấm trên chiếc điện thoại thông minh là chốc lát nữa thôi sẽ có ngay tô bún trong nhà.
Chả phải chỉ tô bún mà ngày nay, nhiều và nhiều món hàng khác nữa kể cả những thứ mà người ta nghĩ không có đều có thể thấy ngay tận mắt và sờ tận tay. Tất cả đều có thể có nếu như có tiền. Chính vì vậy, người ta lao đầu vào tìm tiền bằng mọi cách để vật chất phục vụ mình trong chốc lát.
Thế nhưng rồi giữa cái thế giới xem ra hiện đại có một lỗ hổng lớn mà con người ai ai cũng mắc phải đó chính là thời gian. Dù tất cả mọi sinh hoạt chỉ cần 1 cú điện thoại hay 1 cú click là có nhưng thời gian lại không có cho chồng, cho vợ, cho con và cho cả chính mình.
Cả thời gian cho bản thân mình còn không có nữa Cái gì cũng nhanh hết ! Giao hàng nhanh, thức ăn nhanh .. để rồi thời gian dành cho Chúa cũng không hề có.
Không khó để giải thích chuyện con người từ chối tiệc cưới. Chính vì quá tất bật nên rồi đủ thứ lý do mà con người nói với Chúa xem ra hợp lý và Chúa khó có thể bắt bẻ con người vì những lý do từ chối tiệc xem ra chính đáng.
Bàn tiệc Thánh Thể chính là bữa tiệc cưới tiên trưng cho cuộc đời của người Kitô hữu. Thế nhưng rồi ta thử làm bài toán xem tỷ lệ tham dự bàn tiệc ấy của người Kitô hữu hiện aay được bao nhiêu ? Ngày Chúa Nhật dường như không đi chứ đừng nói đến ngày thường nhật, Đơn giản là người ta vịn đủ thứ lý do của cuộc đời.
Con người thường hay đổ thừa hay có nhiềyu lý do dể vịn cho thân phận, cho cuộc sống, cho tuổi tác ... lý do để tránh né bàn tiệc Nước Trời hàng ngày. Bỏ một ngày thì bỏ hai ngày và từ từ sẽ hình thành một thói quen của con người khi khước từ Thánh Lễ. Đó là chưa nói đến chuyện đến với Chúa như chỉ là cho có. Đến với Chúa, đến Nhà Thờ nhưng trong tay lúc nào cũng lăm lăm cái điện thoại và cái điện thoại đổ chuông to bất cứ lúc nào không ai biết.
Chắc có lẽ vì thiếu lòng tin vào Chúa, kém lòng tin vào Nước Trời nên con người ta cứ vui vẻ sống cái niềm vui tạm bợ của cuộc sống này. Lỡ phóng lao thì theo lao để rồi con người cứ lao theo niềm vui của thực tại mà người ta không tìm niền vui đích thực của kiếp người.
Thật ra mà nói thì chuyện bận rộn và từ chối là do bản thân của mỗi người mà thôi. Bận hay không là do mỗi người tính toán. Có nhiều người khi được hỏi đến thì luôn luôn miệng nói bận rộn. Và bi đát nhất là họ không còn giờ dành cho Chúa nữa.
Dụ ngôn tiệc cưới mà chúng ta vừa nghe, đã nghe và nghe quá nhiều lần như là lời nhắc nhở chọn lựa của mỗi người chúng ta. Nếu như chúng ta thấy cuộc đời này là vĩnh cửu và trường tồn thì hãy mau mau cũng như cố gắng đi tìm và xây dựng cho mình những kho tàng ở trần gian này và ngược lại.
Ta hãy tĩnh lặng để xin Chúa cho ta biết rằng ta chọn cái gì trong cuộc sống. Cần thời gian để nhìn lại đâu là Nước Trời Thiên Quốc mà Chúa mời gọi.
Xin Chúa thêm ơn cũng như soi sáng tâm trí chúng ta để chúng ta thấy rằng cuộc đời này cũng chỉ là cõi tạm mà thôi. Nước Trời mới là vĩnh cửu và đó là đích đến của cuộc đời người Kitô hữu. Vậy thì từ nay, mỗi chúng ta hãy thu xếp thời gian của mình để dành nhiều giờ hơn cho chính bản thân, cho gia đình và nhất là cho Chúa. Đừng để đến khi quá muộn mới trở về với Chúa trong kinh hạt, trong Thánh Lễ vì cuộc đời này tất cả đều chỉ là hư vô mà thôi. Nước Trời mới là bữa tiệc, là đích đến của cuộc đời chúng ta.
----------------
Người GT

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2020

TRAI TỊNH - CHAY TỊNH


-------------------------------
1. Có người hỏi tôi tại sao có người nói “trai tịnh”, có người lại nói là “chay tịnh”. Vậy từ nào đúng hơn? Trước khi trả lời, chúng ta nên tìm hiểu ý nghĩa của hai từ này. 
2. Trai tịnh: Trai tịnh chữ Hán viết là 齋淨
2.1. Trai: Chữ齋 (trai) gồm có chữ齊 (tề) và chữ示(thị) [1]. Chữ tề (齊) xưa cũng đọc là trai, nay ở đây có nghĩa là chuyên tâm. Chữ 示 (thị) được tạo thành bởi hai chữ 二 (là chữ thiên天 (cổ), đọc là thiên, không phải chữ nhị 二) và小[2] (là ba gạch thẳng xuống tượng trưng cho nhật, nguyệt và tinh tú, không phải chữ tiểu 小), nghĩa là nhìn về trời để biết được những việc thay đổi của thời cuộc. Chữ示 (thị) chỉ việc của thần, của trời. Cho nên tất cả các chữ Hán có liên quan đến thần đều có bộ示 (thị).
Chữ trai (齋) có những nghĩa này: đt. (1) Tắm rửa sạch sẽ, không ăn thịt cá, kiêng uống rượu, kiêng phòng sự, ăn thức ăn thực vật để phụng sự thần hay Phật, còn gọi là trai giới. (2) Rước nhà sư tới nhà mở lễ giỗ: trai chủ. (3) Dâng thức ăn cho nhà sư khất thực: thí trai; (4) Lập đàn cầu cúng: trai tiếu. dt. (1) Nhà sư ăn cơm trước buổi trưa. (2) Phòng riêng của học trò độc thân hay của nhà tu: thư trai. (3) Nhà riêng để ở trong lúc sắp tế lễ.
Trai theo chữ Nôm có nghĩa: dt. (1) Người đàn ông trẻ tuổi. (2) Người thuộc nam giới: Bác trai. (3) Hạt châu: Ngọc trai. (4) không biết xấu hổ: Trai lơ. (5) Sò mang vỏ có xà cừ: Trai lệch mồm (6) Âm hộ (tiếng bình dân): Cái trai.
Có người phân biệt ý nghĩa trai (齋) và giới (戒) [3]: Giữ tâm hồn trong sạch gọi là trai (齋), phòng ngừa tai hoạn gọi là giới (戒); ăn chay ba ngày gọi là trai (齋), ăn chay bảy ngày gọi là giới (戒).
2.2. Tịnh có những chữ Hán này: 淨, 凈, 並, 穽, 靚 , 靜, 靖. Trong từ trai tịnh, chữ tịnh là 淨. Chữ này nghĩa là: dt. (1) Đất của Phật: Tịnh độ (thổ土). đt. (2) Làm sạch. (3) Thiến. tt. (4) Sạch sẽ. (5) Hư vô.
2.3. Trai tịnh nghĩa là giữ mình trong sạch cả về tâm hồn lẫn thể xác để chuẩn bị tế tự, thờ thần kính Phật, để tỏ lòng khiêm nhường với thái độ lệ thuộc và phó thác hoàn toàn trước thần Phật.
3. Chay tịnh
3.1. Chay: Theo giáo sư Lê Ngọc Trụ [4] trường hợp tiếng Hán Việt chuyển ra tiếng Nôm khi âm khởi đầu đã đổi thì đa số vận ai đổi ra ay, như: đại > thay; hài > giày; sái > rảy; trai > chay; trái > vay... Như vậy chữ chay là do chữ trai chuyển sang nên chay (Nôm) đồng nghĩa với trai (Hán Việt).
Vậy chữ trai đồng nghĩa chữ chay, chỉ có khác biệt ở chỗ người ta chỉ nói ăn chay mà không nói ăn trai.
3.2. Chay tịnh: đồng nghĩa với trai tịnh, nhưng từ chay tịnh liên kết một chữ Nôm và một chữ Hán, còn từ trai tịnh thì hai chữ đều là chữ Hán.
Sách Phụng vụ các giờ kinh dùng thuật từ trai tịnh [5], còn Điển ngữ Thần học Thánh Kinh thì dùng thuật từ chay tịnh [6]. Hai cách dùng đều được mọi người chấp nhận.
4. Việc ăn chay phổ biến từ rất lâu đời trong các tôn giáo. Mỗi tôn giáo có quan niệm riêng về việc ăn chay và do đó có cách thức giữ chay khác nhau. Với Kitô giáo [7], qua việc chay tịnh, con người nhìn nhận mình lệ thuộc Thiên Chúa, vì lúc không sử dụng lương thực Thiên Chúa ban, con người cảm nghiệm được tính cách bấp bênh của sức lực mình: chay tịnh để tự hạ trước Thiên Chúa (x. Tv 34,13; 68,11; Đnl 8,3). Ăn chay là muốn bày tỏ cùng Thiên Chúa rằng: nếu không có Chúa, chúng ta không thể làm được gì; trong giây phút ta muốn cầu khẩn Chúa một việc quan trọng (x. Tl 20,26; 2 Sm 12,16-22; Edr 8,21; Et 4,16), nhất là để nhìn nhận mình là tội nhân và qua việc nhìn nhận thực lòng tính cách hư vô của mình, con người khẩn cầu Chúa thứ tha (1 V 21,27; Đn 9,3). Chay tịnh thân xác chỉ có ý nghĩa khi đi đôi với một sự kiêng giữ hay xa tránh tội (x. Is 58,1-12), nói khác đi, chay tịnh chỉ là hình thức bên ngoài (x. Mt 5,16-18).
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã từng chay tịnh để chuẩn bị gặp gỡ Thiên Chúa hoặc chuẩn bị thực hiện công trình cao cả với Thiên Chúa. Như ông Môsê và ông Êlia, Chúa Giêsu đã chay tịnh 40 đêm ngày trong sa mạc (Mc 4,1; x. Xh 24,18; 34,28; 1 V 19,8), trước khi công bố Luật mới trong bài giảng trên núi. Tuy nhiên Chúa Giêsu cho thấy rằng chay tịnh tự nó chỉ có giá trị tương đối với các môn đệ, những người được mời tham dự bữa tiệc của Đấng Thiên Sai, thì chay tịnh nói lên thái độ sốt sắng đợi chờ Tân lang, tức là Đức Kitô (Mt 9,14-15).
Chay tịnh của Hội Thánh vào ngày thứ Tư lễ Tro và ngày thứ Sáu Tuần Thánh nói lên ý muốn đền tội và từ bỏ tội lỗi, đó cũng là một sự chuẩn bị đón mừng lễ Phục Sinh. Chay tịnh Thánh Thể được giới hạn một giờ trước khi rước lễ - 15 phút đối với các bệnh nhân - chủ yếu đây là một cử chỉ tôn kính, là sự chuẩn bị đón nhận chính Chúa Kitô trong bí tích, làm hiện thực công trình yêu thương tuyệt diệu của Chúa.
---------------------------------------------
Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
Nguồn truyenthongconggiao.org
Ghi chú
[1] Trung Chánh hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển, trang 45.
[2] Sđd, tr. 1142.
[3] Sđd, tr. 45.
[4] Lê Ngọc Trụ, VIỆT NGỮ CHÁNH TẢ TỰ VỊ, tái bản lần 1, Khai trí, Sài Gòn, 1972, tr. XIX.
[5] CGKPV xuất bản năm 1995, tr. 377.
[6] Do Giáo Hoàng học viện Piô X, đà Lạt xuất bản năm 1973, qu. 1, tr. 210.
[7] Dom Robert Le Gall, DICTIONAIRE DE LITURGIE, 1982.
--------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Hình Âm Nghĩa Tổng Hợp Đại Tự Điển, Đài Loan, 1970.
2. Đào Duy Anh, Hán Việt Từ Điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn, 1957.
3. Viện Ngôn Ngữ Học, Từ Điển Hán Việt, NXB TP.HCM, TP.HCM, 2002.
4. Lê Ngọc Trụ, Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị, tái bản lần 1, Khai trí, Sài Gòn, 1972.
5. Lê Văn Đức, Từ Điển Việt Nam, Sài Gòn, 1970.
6. Viện Ngôn Ngữ học, Từ Điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2004.
7. Lm. Antôn Trần văn Kiệm, Giúp đọc Nôm và Hán Việt, 2004.
8. Quốc Ngữ Hoạt Dụng Từ Điển, Đài Loan, 2004.
9. Từ điển Hán Việt, Trung Quốc, 1994.
10. Đoàn Trung Còn, Phật học Từ điển, tập 3, 1967.

Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2020

Một dược - Mộc dược?

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 23/12/2005 có đăng bài “Dạy chữ Hán để biết và hiểu” của tác giả Nguyễn Văn Duận, trong đó ông nói “Muốn giỏi văn cần học chữ Hán”, ông nói rõ hơn: “Chúng ta có một thời – khi học toán – đã băn khoăn vì không hiểu được nghĩa gốc của những từ như tích phân, ma trận…; khi học vật lý quang học đã băn khoăn với từ như thị trường, quang phổ, tử ngoại……”. Riêng tôi nghĩ rằng bên Công Giáo cũng có tình trạng này. Ví dụ tên của Đức Hồng Y Hồng Kông là Trần Nhật Quân (陳日君), nhưng các báo, các đài, các trang web, cứ viết là Trần Minh Quân; hay là lễ năm mới trong sách lễ Roma, lúc đầu viết là Thánh lễ Minh Niên, sau này sửa lại cho đúng là Thánh lễ Tân Niên, nhưng các cha ở hải ngoại vẫn viết là Thánh lễ Minh Niên. Đây chỉ là vài ví dụ về hậu quả của việc ít biết chữ Hán, hễ thấy ai dùng một từ mới lạ, dù không hiểu ý nghĩa cũng dùng theo.
Sau khi Chúa Giêsu sinh ra, có các hiền sĩ đến thờ lạy Chúa, họ dâng tiến Chúa các lễ vật: "vàng, nhũ hương vàmyrrha" (Mt 2,11) có người dịch myrrha là mộc dược, có người dịch là một dược (1) . Chúng ta thử tìm hiểu xem từ nào là từ đúng?
1. Myrrha là gì?
Myrrha (tiếng Akkadi: murru; Hípri: môr) là một chất nhựa chảy ra từ cuống và nhánh của một giống cây bụi thấp, thuộc nhóm cây Commiphora myrrha (có tên khác là Balsamodendron myrrha), thuộc họ gần với nhóm Commiphora kataf. Cả hai nhóm cây này có nguồn gốc từ sa mạc Ảrập và Phi Châu. Nhựa tiết ra từ thân cây chảy xuống mặt đất, sau đó quánh lại thành một chất nhựa có màu vàng nâu sánh như dầu . 
Myrrha có giá trị nhờ mùi thơm (x. Tv 45,8-9; Sk 7,17; Ct 3,6; 4,14; 5,5,13); là thành phần trong dầu thánh (x. Xh 30,23-33); có tính chất chữa bệnh, pha với rượu giúp giảm đau; ở Ai Cập và Giuđêa được sử dụng chủ yếu để ướp xác chết, vì có tính chất chống lại sự thối rữa. Ngoài ra, nó còn được dùng để thanh tẩy phụ nữ.
Myrrha được các hiền sĩ dùng làm lễ vật dâng tiến cho Chúa Hài Nhi, họ dâng tiến Người các lễ vật gồm: “vàng, nhũ hương và myrrha” (Mt 2,11); Myrrha cũng là chất mà người ta đưa lên cho Chúa Giêsu lúc trên thập giá (x. Mc 15,23); và cũng là một trong những chất dùng ướp xác Người (x. Ga 19,39) (2). 
Theo cha Neil Chadwick (3): Myrrha là chất dẽo thơm được chế xuất từ bụi gai mọc ở Ả Rập và Ethopia, và thu được từ cây giống như cách thu được nhũ hương vậy. Loại cây có mùi thơm này được gọi là "Balsamodendron myrrha" tương tự như cây keo (Acacia). Myrrha cao từ 8-10 fts và có mùi thơm. Khi bị cắt, nó tiết ra một chất nhựa màu vàng nhạt, sau đó cô đặc lại thì sẫm màu hoặc có màu đen.
Myrrha đã được sử dụng chủ yếu là ướp xác chết, vì nó có tính chất chống lại sự thối rữa (x. Ga 19,39), nó được sữ dụng nhiều ở Ai Cập và Giuđêa. Cổ thời nó đã có giá trị thương mại (x. St 37,25), là thành phần của dầu thánh (x. Xh 30,23), được dùng như dầu thơm dễ chịu (x. Et 2,12; Tv 45,8; Cn 7,17). Myrrha được người thời xưa ưa thích dùng như dầu thơm. Người ta nói rằng đựng nó trong lọ thạch cao, nó có thể giữ mùi thơm ngát trong nhiều thế kỷ. Myrrha còn có tính chất chữa bệnh, trộn nó vào rượu vang để làm một loại thức uống. Người ta đã pha chế nó như một loại thuốc giảm đau và cho Chúa Cứu Thế uống khi Ngài bị treo trên thập giá (x. Mc 15,23; Mt 27,34). 
2. Myrrha dịch là một dược hay mộc dược?
Một số rất ít từ điển tiếng Việt có hai từ này:
- Theo “Từ điển tiếng Việt” (Viện Ngôn Ngữ Học, 2005): Mộc còn có nghĩa là cây bụi nhỏ, lá có răng cưa, mọc đối nhau, hoa nhỏ rất thơm, thường dùng để ướp chè, thuốc lá (nhưng không phải là myrrha). 
- “Việt Nam Tự Điển” (Lê Văn Đức, 1970) giải thích từ mộc dược (chữ Hán là 沐 藥): Tắm với nước có pha thuốc.
- “Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” (của Giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, 2004) giải thích từ một dược (chữ Hán là 沒藥): Myrrha (còn gọi là Myrrhe) là chất gồm nhựa trích từ cây Commiphora momol Engler hay Commiphora abyssinica Engl, thuộc họ trám (Burseraceae). Cây này chưa thấy ở nước ta. Trước đây ta nhập của Trung Quốc, nhưng bản thân Trung Quốc cũng phải nhập từ các nước tây Châu Phi, vùng Hồng Hải, Somali, Abytsini, Ả Rập. Thành phần chủ yếu của một dược gồm 28-40% nhựa và tinh dầu, 61% gôm, 3-4% tạp chất và một ít chất đắng. Tinh dầu một dược chứa axít tự do, axít axetic, axít panmitic (tinh dầu cũ), hay tinh dầu kết hợp (tinh dầu mới cất), … Công dụng: Đông y dùng một dược để chế một số cao dán nhọt có tính chất hoại huyết, giảm đau, tiêu thũng. Có khi dùng làm thuốc điều kinh. Tây y dùng trong công nghiệp nước hoa, thuốc bổ, trấn kinh. Uống trong với liều 0,20 đến 2g.
- Theo cha Eugene Gouin (MEP) (4):
* Mộc: có 3 chữ Hán là: 木; 沐 và 霂 (5). Chữ Liên quan là (沐), có 3 nghĩa (6): (1) Tắm, tắm rửa, tắm gội. (2) Dầm, tẩm, làm thấm. (3) Con khỉ đột, con bú dù.
* Mộc dược (沐藥): Tắm với nước có pha thuốc (7) dùng với từ thứ hai, có nghĩa thứ nhất).
* Một: có 2 chữ Hán là: 沒 và 歿. Chữ liên quan là (沒), một có 6 nghĩa (8): (1) Nhúng, nhận chìm; tối tăm, mù mịt, mờ sẫm; chết chìm, chết đuối, chết trôi; chôn cất, mai táng. (2) Hoàn thành, hoàn tất; chết; ngất xỉu, bất tỉnh. (3) Vượt quá, lấn; trội hơn. (4) Ao ước, thèm muốn; thèm khát. (5) Từ diễn tả sự từ chối, phủ nhận. (6) Cây cỏ, thảo mộc, thực vật.
* Một dược (沒藥), có hai nghĩa (9): (1) Tịch thu, sung công; thu chiếm, đoạt lấy (nghĩa thứ hai). (2) Thuốc dùng ướp xác người chết, myrrha (nghĩa thứ sáu).
3. Nhận xét
Trong tiếng Việt, mộc dược chỉ có một nghĩa duy nhất là “tắm với nước có pha thuốc”. Còn một dược được dùng để chỉ chất thuốc (thơm, ướp xác,...) hoặc một loại thực vật, đó là cây Myrrha. 
Kết luận 
Vậy, Myrrha nên dịch cho đúng là một dược (沒藥), chứ không phải mộc dược (沐藥).
LM Stêphanô Huỳnh Trụ
[gpcantho.com 04/01/2016]

Chú thích: 
1. Các bản dịch Tân Ước của: ĐHY Giuse Maria Phạm Đình Tụng, Lm. Trần Đức Huân, Lm Tống Viết Toại, Thánh Kinh Hội Trung Hoa (Bản của anh em Tin Lành), http://www.vnbaptist.net/Tu_Dien (Bản của anh em Tin Lành), Hồng Kông (Bản của Công giáo)... Đều dịch là: Một dược.
Các bản dịch Tân Ước của: Lm. Nguyễn Thế Thuấn, Nhóm CGKPV, UBPV của HĐGMVN... Đều dịch là: Mộc dược.
2. BIBLE DICTIONARY, 1965.
3. Xem bài "Gold, Frankincense and Myrrh" của Dr. Neil Chadwick, trong http://www. webedelic.com/church: Có thể xem chi tiết ở http://www.science.siu.edu/plant-biology, http://www.essentialoils.co.za/essential -oils/ myrrh.htm.
4. Eugene Gouin, DICTIONNAIRE VIETNAMMIEN CHINOIS FRANCAIS, Imprimerie d'Extrême-Orient, Saigon,1957.
5. Pluie fine (tạnh mưa; mạch, minh)
6. (1) Se laver la tête; se baigner. (2) Imprégné. (3) Grand singe.
7. Bains médicamenteux.
8. (1) Immergé, sombrer, se noyer, inhumer. (2) Finir, mourir, s'évanouir. (3) Dépasser, excéder. (4) Convoiter, désirer. (5) Terme exprimant la négation. (6) Végétaux.
9. (1) Confisquer. (2) Médicament pour embaumer les morts, myrrhe.

 

 -----------------------------------------------

MỘT DƯỢC HAY MỘC DƯỢC ?

MỘT DƯỢC HAY MỘC DƯỢC ?



BÙI NGỌC HIỂN
            Trong Kinh Thánh Tân Ước, thánh Mat-thêu thuật lại : Đức Giê-su sinh ra tại Bê-lem xứ Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê, thì này : những đạo sĩ từ phương Đông đến Giê-ru-sa-lem nói : "Vua dân Do-thái mới sinh hiện ở đâu ? Vì chúng tôi đã thấy ngôi sao của Ngài bên trời Đông, và chúng tôi đến bái yết Ngài." ... Thấy ngôi sao, họ hớn hở vui mừng quá đỗi. Và vào nhà, họ thấy Hài nhi cùng Ma-ri-a mẹ Ngài, và họ sấp mình xuống bái yết Ngài ; đoạn mở tráp báu, họ dâng Ngài lễ vật : vàng, nhũ hương và một dược. (Mt 2:1-2,10-11)
            Vàng (Latin : aurum ; Hi-lạp : χρυσός [khrysos] ; Anh : gold) là một trong những quý kim thượng hạng, tượng trưng cho thần tính Thiên Chúa trong xác phàm. Nhũ hương (L. : tus ; H. : λιβάνι [libani] ; A. : frankincense) là một loại nhựa cây được chế biến dùng cho việc làm hương đốt, tượng trưng cho sự thánh thiện và công chính, ở đây mang nghĩa tiên báo việc Hài nhi Giê-su sẽ trở thành lễ toàn thiêu. Một dược (L. myrrha ; H. : σμύρνα [smyrna] ; A. : myrrh) cũng là một loại nhựa cây có mùi thơm, vị đắng, dùng làm chất giảm đau, thuốc ướp xác..., tượng trưng nhân tính của Hài nhi Giê-su, cũng mang nghĩa tiên báo việc Hài nhi Giê-su sau sẽ phải chịu tử nạn, chịu táng trong mồ...
            Các danh từ vàng, nhũ hương đều không có sự lầm lẫn nào trong các bản văn tiếng Việt, nhưng từ một dược lại có nhiều điều đáng nói. Từ này trong KT L, bản Nova Vulgata là myrrha, xuất hiện trong Cựu Ước 13 lần, trong đó riêng Nhã ca (Diệu ca..., L. : Canticum Canticorum) xuất hiện 8 lần (các câu : Ex 30:23, Esth 2:12, Ps 45:9 (bản LXX là 44:9, bản Tin Lành là 45:8), Prov 7:17, Cant 1:13, 3:6, 4:6, 4:14, 5:1, 5:5 (xuất hiện 2 lần trong cùng một câu), 5:13, Eccles 24:20 (bản LXX là 24:15) ; trong Tân Ước 3 lần (các câu : Mt 2:11, Mc 15:23, Jn 19:39). Hầu hết các trường hợp xuất hiện trong Cựu Ước đều được bản LXX dịch sang tiếng Hi-lạp bằng σμύρνα, trừ hai chỗ là câu Prov 7:17 dịch bằng ἄρωμα [arōma] và câu Cant 1:13 dịch bằng στακτή [staktē].
            Các bản KT bằng Hoa ngữ (cả Công giáo như 思高本 [Tư Cao bản] (1) và Tin Lành như 和合本修訂版[Hoà Hiệp bản tu đính bản]) đều dịch thống nhất các danh từ ở vị trí tương ứng với myrrha trong các câu KT dẫn trên bằng 沒藥 (phồn thể) hoặc没药 (giản thể). Dù là phồn thể hay giản thể, thì chúng đều chỉ được đọc với âm Hán – Việt là một dược. (2)
            Trước n 1971, các sách của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đều in đúng là một dược. Có thể kể trước tiên là quyển Thiên Chúa thánh giáo nhựt khoá tịnh Chúa Nhựt pháp [= Kinh đọc thường ngày và Chúa Nhật của đạo thánh Đức Chúa Trời], thường gọi thông dụng là Sách Mục Lục, do nhà in Mission tại Tân Định, Saigon, in vào khoảng những năm 1930 (3), ở Đệ thất thiên : Đồng niên tổng Kinh văn [= Thiên thứ 7 : Gom chung các Kinh quanh năm], mục I. Ca hát trong mùa Sinh nhựt, có hai bài : bài 10. Lễ Ba Vua : Tam Vương triều thị Cứu thế [= Ba Vua chầu xem Đấng Cứu thế], và bài 11. Lễ Ba Vua : Tam Vương lai trào [= Ba Vua đến chầu] đều dùng từ một dược (4).
            Các sách khác như : Bản dịch KT Tân Ước của linh mục Nguyễn Thế Thuấn (bản in năm 1965). Bản này cũng đã có vấn đề. Theo linh mục NTT thì phải in là một dược, nhưng nhà in đã sửa (5) thành mộc dược ở trang 448 (câu Jn 19:39 ; hai chỗ còn lại là Mt 2:11 và Mc 15:23 vẫn in một dược). Chỗ sửa đúng thành sai này đã được điều chỉnh ở phần đính chính, trang 12* cuối sách (phần đính chính này dài tới 31 trang). Không riêng chữ một dược bị sửa thành mộc dược, những người lo liệu việc in ấn và xuất bản còn sửa từ ngữ của linh mục NTT rất nhiều chỗ, khiến ngài phải lên tiếng trong một bài viết đăng trên nguyệt san ĐMHCG lúc bấy giờ. Sau khi linh mục qua đời, toàn bộ bản dịch KT Cựu – Tân Ước của ngài được Dòng Chúa Cứu Thế đem in tại Nhà in ĐMHCG và xuất bản cuối năm 1976. Trong Lời nói đầu của bản in này, ban Xuất bản cho biết họ đã "... thay thế một ít tiếng không quan trọng..." (sic). Và một trong số một ít tiếng không quan trọng đó hẳn là tất cả các chữ một dược đều được in thành mộc dược (phần Cựu Ước, các trang 184, 1109, 1380, 1523, 1588, 1591, 1593 [2 lần], 1594 [2 lần] ; phần Tân Ước, tt. 15, 117, 249). Trước đó, bản dịch Sách Lễ của NXB Hiện Tại (bản dành cho giáo dân, tái bản lần thứ năm, năm 1969), t. 60, trong bài Phúc âm nói về việc ba hiền sĩ phương Đông đến kính bái Hài nhi Giê-su cũng in một dược (6). Bản dịch KT Cựu – Tân Ước của linh mục Trần Đức Huân do Thánh Kinh thiện bản xuất bản năm 1971 cũng in nhất loạt là một dược. Bên Tin Lành, bản Kinh Thánh (xuất bản lần đầu năm 1926 – ở đây căn cứ vào bản được Thánh Kinh Công hội in lại n 1966), trừ câu trong sách Ecclesiasticus (không có trong các sách KT Tin Lành), 15 chỗ còn lại đều được dịch và in rất chuẩn là một dược. Bản dịch mới (E : New Vietnamese Bible) cũng dùng một dược trong 15 chỗ như bản 1966.
            Khi xuất hiện các bản dịch Sách Lễ (SL) tiếng Việt do Uỷ ban Giám mục về Phụng vụ xuất bản từ 1969 đến 1971, đều chỉ gặp thấy mộc dược mà không hề thấy một dược, như SL Mùa Vọng và mùa Giáng Sinh, 1969, t 208 (2 lần), SL Mùa Chay và mùa Phục Sinh, 1970, tt. 148, 180, SL Roma, 1971, t. 186. Sau này Uỷ ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam xuất bản SL Rô-ma vào năm 1992, cũng thấy dạng mộc dược (t. 170).
            Năm 1983, Lm An-sơn Vị, dòng Anh Em Đức Mẹ Người Nghèo, xuất bản Thánh Kinh Tân Ước, Tin Mừng về Chúa Cha, ấn bản toàn thư. Đây là bản dịch được dịch giả sử dụng rất nhiều tiếng Hán – Việt, cả những từ khá quen (nhưng ít dùng, và có lẽ không gặp thấy trong các bản dịch khác), như : Đạo Ngôn, trang 13, [... đừng sợ rước Bà Ma-ri-a,] Hiền thê [ông...] (Mt 1:20), Vườn Diệu quang (Apoc 2:7), Chúa Cửu Trùng (Apoc 4:7), Hiền Phụ, Thần Linh Hiếu Tử, t. 124..., hoặc những từ đơn có sẵn để ghép với nhau đặt ra những từ mới thay cho những từ đã quen, chẳng hạn : Thiên Phụ (Mt 3:16), Huyền Thê (Apoc 22:17), Huyền Phu, trang 23, Đấng Thụ Hấn (= Đấng chịu xức dầu, Đức Mê-xi-a ; sic., t. 98), Toàn Ái, trang 34G,... Thế nhưng bản dịch này cũng dùng mộc dược trong cả 3 câu Mt 2:11 ; Mc 15:23 và Jn 19:39.
            Năm 1998, Nhóm Phiên dịch các Giờ Kinh Phụng Vụ (7) xuất bản KT trọn bộ Cựu Ước và Tân Ước (không chú thích) cũng dùng nhất loạt từ mộc dược cho 16 chỗ đã dẫn (8). Hình như các dịch giả có hứa hẹn sẽ xem xét lại việc dùng một dược / mộc dược từ khoảng cuối năm 2000. Thế nhưng khi xuất bản Kinh Thánh ấn bản 2011, ấn bản kỷ niệm 40 năm hiện diện của nhóm, 16 chữ mộc dược cứ nghiễm nhiên tồn tại (9) !
            Cả trong Từ điển Công giáo Anh – Việt của Nguyễn Đình Diễn (n 2002), mục từ myrrh cũng dịch là mộc dược ! Trong khi đó, linh mục Trần Văn Kiệm, tác giả quyển Giúp đọc Nôm và Hán Việt (n 1999), trong bản dịch KT Tân Ước của mình đều dùng một dược tại cả ba câu Tân Ước đã dẫn.
            Nếu xem xét trong các từ điển, thì ngay từ năm 1839, Joachim Alphonsus Gonsales trong Lexicon Manuale Latino-Sinicum [= Thủ bản từ vựng Latin – Hán] đã dịch myrrha là 沒藥香 [một dược hương]. Năm 2002, trong quyển từ điển Công giáo tiếng Hoa là 天主教英漢袖珍辭典 [Thiên Chúa giáo Anh Hán tụ trân từ điển] do 主徒會恒毅月刊社 [Chúa đồ hội Hằng Nghị nguyệt san xã] xuất bản, dịch mục từ myrrh : 沒藥 : 新約中東方賢士所獻給耶穌的三禮之一 [một dược, Tân Ước trung Đông phương hiền sĩ sở hiến cấp Da-tô đích tam lễ chi nhất = một dược, một trong ba lễ vật các hiền sĩ Đông phương dâng lên Chúa Giê-su trong Tân Ước]. Lại 古希腊语汉语词典 Cổ Hi-lạp ngữ Hán ngữ từ điển, 罗念生,水建馥编 La Niệm Sinh, Thuỷ Kiến Phức biên, 商务印书馆 Thương Vụ ấn thư quán, 北京 Bắc Kinh 2004, mục từ σμύρνα cũng dùng  một dược để dịch, không những thế còn mở ngoặc ghi chú thêm dạng Hi-lạp thứ hai là μύρρα [myrr(h)a]. Gần đây hơn cả, trong Encyclopedia of Traditional Chinese Medicines [= Bách khoa dược liệu Trung Hoa truyền thống] của các tác giả Jiaju Zhou, Guirong Xie và Xinjian Yan, 2011, chỉ có hai dược liệu mà thành tố đầu có âm Hán – Việt là một, đó là : một thực tử 没食子 (mo shi zi) và một dược 没药 (mo yao ; tất cả các tên đều có in kèm tên tiếng Anh tương ứng, với từ một dược này là myrrha), trong khi có tới 28 dược liệu có thành tố đầu có âm Hán – Việt mộc, nhưng chẳng hề có dược liệu nào là mộc dược (10).
            Qua phân tích trên, có lẽ sự sai sót trên là do những người chấp bút chủ quan, nghĩ rằng đã dùng một từ ngữ "quen thuộc" như thế, thì chẳng cần tra cứu lại làm gì. Vấn đề là khi có góp ý, thì lại chủ quan thêm một lần nữa (hay cho rằng đó chỉ là tiểu tiết ?), nên vẫn chẳng cần tra cứu để xác định đúng sai (hay cho rằng sao có lắm kẻ ưa "bới lông tìm vết ?).
            Gần đây, linh mục Huỳnh Trụ có lên tiếng về hai tiếng một dược và mộc dược này, và cho biết nếu là mộc dược với mặt chữ Hán là 沐藥 thì cũng có nghĩa (là thuốc dùng để tắm). Nhưng đây không phải là chữ sẵn để có thể xuất hiện như một mục từ riêng biệt trong từ điển ; hơn nữa với nghĩa như thế thì rõ ràng không phải nghĩa của myrrha trong Latin ! Tuy nhiên ngài vẫn đề nghị nên đổi mộc dược thành một dược cho đúng. Có ý kiến dễ dãi cho rằng nếu cả hai từ đều có nghĩa thì dùng từ nào cũng được, sửa đổi chi cho mệt, thêm rắc rối. Thực chất vấn đề không phải là từ nào cũng có nghĩa thì dùng từ nào cũng được. Nếu cũng được thì còn phải sửa đổi "bản tính" thành 'bản thể", "cùng được phụng thờ và tôn vinh..." thành "được phụng thờ và tôn vinh cùng với..." (vì "cùng" ở câu trên thường bị đọc sai thành "cũng") như trong Kinh Tin Kính đọc trong các Thánh Lễ làm chi ! Vấn đề là như Mt 5:37 : ναὶ  ναί,  οὒ  οὔ· [Hi-lạp ; Có (thì nói là) có, không (thì nói là) không (xin không dám dẫn thêm phần sau của câu Kinh Thánh này, vì sợ quá !)]. Chỉ có một dược mà không hề có mộc dược để dịch myrrha (của Latin), thì tại sao cứ cố chấp dùng cái không có thay cho cái có ?
Chú thích :
(1) Bản Tư Cao này câu Ex 30:23 lặp hai lần chữ một dược : 你要拿上等的香料:純正沒藥五百「協刻耳,」香肉桂為沒藥的一半,即二百五十「協刻耳,」香菖蒲二百五十「協刻耳,」: nễ yêu nã thượng đẳng đích hương liệu : thuần chính một dược ngũ bách "hiệp-khắc-nhĩ", hương nhục quế vi một dược đích nhất bán, tức nhị bách ngũ thập "hiệp-khắc-nhĩ", hương xương bồ nhị bách ngũ thập "hiệp-khắc-nhĩ" = dịch sát nghĩa là : ngươi  hãy lo lấy được các hương liệu thượng đẳng : một dược ròng năm trăm se-kel, hương nhục quế bằng nửa một dược, tức hai trăm năm mươi se-kel, hương xương bồ hai trăm năm mươi se-kel.

(2) Chữ 沒/没 (một) có thể tra cách đọc Hán – Việt trong các từ điển : Đại Nam Quấc âm tự vị, Huình-Tịnh Paulus Của, Saigon, 1896, Tome II, trang 51 ; Hán Việt từ điển giản yếu, Đào Duy Anh, 1931 ; Việt Nam tự điển, Hội Khai Trí Tiến Đức, Hà Nôi, 1931, trang 350 ; Hán Việt tự điển, Thiều Chửu, Đuốc Tuệ, 1942, trang 335 ; Dictionnaire Annamite – Chinois – Français, Gustave Hue, Trung Hoà, 1937 trang 580 ; Giúp đọc Nôm và Hán – Việt, L.m. Anthony Trần Văn Kiệm, Huế, 1999, trang 633...  

(3) Đây là một quyển sách Kinh rất hay, sau này được in lại nhiều lần, trước 1975 in typo, sau này in lại bằng chế bản từ bản đánh máy vi tính. Càng về sau, các bản in càng có nhiều sai lỗi, do người sắp chữ hoặc người đánh máy vi tính không thạo tiếng Việt (thật đáng buồn thay ! Trong một bài khác sẽ xin bàn thêm về quyển Kinh). Dẫu vậy, riêng từ một dược thì lại không hề thay đổi từ những bản in cũ nhất cho đến những bản in gần đây nhất.

(4) Bài 10. Tam Vương triều thị Cứu thế : ... Nay nước mọn ba tôi, / Lễ đơn ba giống :/ Vàng cùng nhũ hương, / Một dược dưng hầu Chúa.... Bài 11. Tam Vương lai trào : ... Lễ mọn chút vàng nầy, / Cùng nhũ hương một dược, / Ba tôi dưng kính / Lạy Chúa nhậm lòng...

(5) Hay sắp chữ sai do phát âm địa phương, hay do chủ quan, thiên kiến ?

(6) Câu Mc 15:23 (trong bài Thương Khó đọc trong Thứ Ba Tuần Thánh theo Sách Lễ Rô-ma cũ trước Công đồng Vatican II) được dịch là : ... Chúng cho Người uống rượu pha mật...(t. 274), câu Jn 19:39 (Thứ Sáu Tuần Thánh, t. 310) dịch là : ... Ông mang một bình trộn dầu và thuốc thơm...

(7) Căn cứ Lời Giới thiệu của Đức Tổng Giám mục Phạm Minh Mẫn, còn các dịch giả gồm 14 người được ghi tên đầy đủ, chứ không dùng danh xưng chung là NPDCGKPV như trong bản KT Tân Ước, khổ nhỏ, không chú thích, n 1995.

(8) Các trang 162, 854, 1059, 1175, 1232, 1234, 1235 [2 lần], 1236 [2 lần], 1237, 1316, 1848, 1933 và 2038.

(9) Các trang 170, 927, 1168, 1293, 1369, 1373, 1374, 1375 (2 lần, câu Cant 4:14 và 5:1), 1376 (cũng xuất hiện 2 lần trong cùng câu này), 1377, 1477 (câu Eccles 24:15, theo bản LXX), 2127, 2246 và 2369.

(10) Tên Hán Việt (cùng với mặt chữ Hán và cách phát âm "phổ thông" trong tiếng Hoa) của 28 dược liệu đó là : 1. mộc biện thụ 木瓣树 mu ban shu, 2. mộc miết căn 木鳖根 mu bie gen, 3. mộc miết tử 木鳖子 mu bie zi, 4. mộc sài hồ 木柴胡 mu chai hu. 5. mộc nhĩ 木耳 mu er, 6. mộc phòng kỉ 木防己 mu fang ji, 7. mộc phù dung hoa 木芙蓉花 mu fu rong hua, 8. mộc qua 木瓜 mu gua, 9. mộc hồ điệp 木蝴蝶 mu hu die, 10. mộc hồ điệp thụ bì 木蝴蝶树皮 mu hu die shu pi, 11. mộc cận hoa 木槿花 mu jin hua, 12. mộc cận bì 木槿皮 mu jin pi, 13. mộc cận tử 木槿子 mu jin zi, 14. mộc quất 木橘 mu ju, 15. mộc lãm 木榄 mu lan, 16. mộc lam 木蓝 mu lan, 17. mộc lê lô 木藜芦 mu li lu, 18. mộc ma hoàng 木麻黄 mu ma huang, 19. mộc miên hoa 木棉花 mu mian hua, 20. mộc thự (địa thượng bộ phận) 木薯(地上部分) mu shu (di shang bu fen), 21. mộc đề tằng khổng khuẩn 木蹄层孔菌 mu ti ceng kong jun, 22. mộc thiên liệu 木天蓼 mu tian liao, 23. mộc thông 木通 mu tong, 24. mộc thông căn 木通根 mu tong gen, 25. mộc đồng hao 木茼蒿 mu tong hao, 26. mộc hương 木香 mu xiang, 27. mộc tặc 木贼 mu zei, 28. mộc tặc ma hoàng 木贼麻黄 mu zei ma huang.

WORLD TIME

--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- ---------------------------------------------------------------------------------------------------------------------